Sáng ngày bốn trăm mười ba, ở góc cuối dãy chợ lễ, Mặc ngồi xổm trước một cái nồi đất nhỏ đặt trên ba hòn gạch, quấy cao nhựa chuối rừng với mật và bột vỏ trai bằng chiếc đũa tre. Đó là thuốc bỏng dùng ngoài da chép từ thẻ phương Ám Lô, hắn đem ra thử bằng gói dược liệu mua từ trước khi xuống bến, và nồi đầu tiên đóng cặn ở đáy nên hắn đổ bỏ không tiếc. Nồi thứ hai trong hơn, trét lên mu bàn tay Lão thành một lớp mỏng không rát.
"Mát," Lão nói, rồi nhìn mu bàn tay mình với vẻ nghi ngờ, "mát thế này thì bán rẻ quá, ta sợ khách tưởng nước lã."
"Ghi nồi này thôi," Mặc nói, "nồi kia đừng ghi, ta bỏ rồi."
Cách đó hai chục bước, trước dãy quầy niêm lễ, lò đan của Hứa lễ quan đang chạy hết cỡ, ba thợ kéo bễ luân phiên, than đỏ rực dưới nắp đồng. Ông thợ lò già đứng sát miệng lò, ngón tay đặt lên thành đồng, và Mặc nghe tiếng lò đổi giọng trước khi nghe ông nói, một tiếng rít mảnh hắn từng nghe trong hầm Ám Lô lúc gió lệch.
"Lò rít rồi," ông thợ nói, "xin ngừng bễ nửa canh, thưa lễ quan."
"Trống mở lễ đánh trước giờ ngọ, hàng phải giao trước trống," gã nói, không quay đầu, tay vẫn sửa nếp gấp ở ống tay áo, "ngừng bễ thì trống đánh trước đan."
Mặc đã đứng dậy, để cái đũa tre lại trong nồi, và đúng lúc ấy Hoài Quang xuất hiện ở đầu dãy với bộ áo trắng ôm trước ngực. Cô vẫy tay gọi hắn, miệng mở ra cái tên của hắn mà tiếng bễ nuốt mất, vì cô đã hẹn thử áo trước giờ lễ và đã tới đúng hẹn.
Nắp lò bật lên trước khi hắn đi hết mười bước.
Than đỏ văng ra hai phía, một mảnh đồng cắm vào cột quầy, và ba người sát lò ngã xuống với áo đã bén lửa. Tiếng kêu của họ nghe như tiếng của một người. Mặc kéo người thứ nhất ra khỏi vòng than bằng cả hai tay và giật lớp áo đang cháy khỏi lưng anh ta, ném sang bên. Rồi hắn quay lại kéo người thứ hai, và quanh hắn đã có những bàn tay khác của khách chợ, những người chưa biết hắn là ai, khiêng, đạp tắt, vác thùng nước.
"Nước sạch," hắn nói to, "đừng bôi tro, đừng bôi dầu, đưa họ vào chỗ mát cho nằm xuống!"
Hoài Quang ném bộ áo trắng lên một cái sào, chạy tới giữ chiếc thùng nước đang đổ nghiêng, và cô là người đầu tiên đưa cho ông thợ già một gáo nước sạch để rửa tay.
"Cháu tới thử áo," cô nói với Mặc, thở không ra hơi, mắt vẫn nhìn ba tấm lưng cháy, "cháu gọi ông mà ông không nghe."
"Ta nghe tiếng lò trước tiếng cô," hắn nói, "áo thì để mai."
"Mai thì áo cũng không chạy đâu," cô nói, rồi xắn tay áo lên, và hắn thấy cô đã không còn nhìn về phía sào áo nữa.
Hứa lễ quan đứng yên thêm hai nhịp, rồi mới ra lệnh cho phu kho đi tìm người coi thuốc của quầy lễ.
Chiều hôm ấy họ khiêng ba người vào gian lò Mặc thuê, vì nó gần nhất và cửa gài được then. Liễu thẩm mang tới một súc vải chưa nhuộm, lật mặt trái ra cắt những mảnh dài cho hắn băng, và may luôn ba cái túi nhỏ ở mép vải để đựng phần thuốc của từng người. Bà không nhắc tới cái áo lễ, và cô con gái ngồi cạnh bà cũng không.
Lão Khúc xách một túi vải về lúc nắng xế, đặt xuống bệ lò. "Sáu mươi thạch vốn buôn của ta, ứng cho dược liệu đủ ba người," lão nói, "ta ghi biên nhận hai tờ, ngươi cầm một ta cầm một, cấm ngươi quên."
Hứa lễ quan tới lúc trời nhá nhem với hai phu kho khiêng một chiếc hộp sơn son. "Người bị nạn ở lò của lễ thì nằm ở quầy của lễ," gã nói, "ta có thầy thuốc và thuốc có niêm."
"Họ nằm đây," ông thợ già nói, nằm nghiêng trên chiếu, giọng nhỏ nhưng không run, "thuốc của quầy ông thì tôi bôi một lần rồi, nóng nó không rút."
Gã nhìn Mặc, và Mặc không đáp bằng lời. Hắn đặt mu bàn tay lên da một người bị bỏng, thấy hơi nóng vẫn ăn vào sâu dưới lớp da đã phồng, rồi ngẩng lên nhìn gã.
"Thuốc của ngài mát ngoài, còn nóng trong," hắn nói, "bôi thêm thì nó nhốt cái nóng ở đó."
"Thuốc có niêm lễ," gã nhắc lại.
"Niêm không rút được nóng."
Gã đợi một lát rồi đi, hai phu kho khiêng hộp sơn son về theo.
Đêm ấy hắn đọc thẻ phương dưới ngọn đèn dầu nhỏ, nhóm lò bằng than thường, luyện thuốc trong nồi đồng, dừng ở chỗ nào cũng ghi lại, trong khi Nguỵ ngồi trên bậc thứ hai ngoài cửa.
"Hai lối," Nguỵ nói qua ván cửa lúc nửa đêm. "Ta giữ trái. Đừng ngoái."
"Ta không ngoái."
"Tay run," Nguỵ nói. "Đổi tay."
Tới gần sáng, hắn có ba phần thuốc xếp trong ba cái túi vải trắng, đủ cho ba người bôi hết một lượt. Hắn dừng lò. Bàn tay phải vẫn run thêm một lúc sau khi cái đũa đã nằm yên.
Sáng ngày bốn trăm mười bốn, cả ba người hết đợt bỏng lan, hạ sốt, và ông thợ già tự cầm gáo uống nước. Vết sâu còn đó, phải thay thuốc nhiều ngày, sẽ để sẹo, và bàn tay cháy nhất của người thứ hai sẽ không mọc lại. Hắn nói thẳng điều ấy, ngồi xuống cạnh người thứ hai.
"Tay này không mọc lại được," hắn nói, "mấy ngón còn lại giữ được hay không thì tùy những ngày tới."
"Tôi biết," người ấy nói, "tôi đứng nhìn nó cháy mà."
Hứa lễ quan tới lần thứ hai cùng người coi thuốc, đặt chiếc hộp sơn son lên chiếu, mở nắp, đẩy nó về phía ông thợ già. Ông thợ già đặt hai ngón tay lên nắp hộp và đẩy nó trở lại, không mạnh, chỉ đủ cho nó trượt qua mép chiếu.
"Xin ông cho tôi dùng tiếp thuốc của ông ấy," ông nói, nhìn Mặc, "tôi chỉ xin giữ được ngón đang co này."
"Hết đêm nay ta mới nói được hơn," Mặc nói, "ngón ấy co hay duỗi, sáng mai ta xem."
Gần trưa, người nấu bột đứng chờ ở góc cuối dãy cùng hai chủ lò khác, tay cầm một tờ đơn viết vội. Mười hai cái lò trong dãy của họ cần thuốc thay cho ba người bỏng và thuốc chăm tay cho thợ đứng lò, mười ngày một lượt, chín lượt, mỗi lượt một trăm thạch, giao lượt nào trả lượt ấy.
"Ta xin ứng trước sáu lượt," Mặc nói, "ngay hôm nay."
Ba người nhìn nhau. "Ông xin sáu trăm thạch của mười hai cái lò," người nấu bột nói, "để làm gì?"
"Để mua một thứ chỉ bán hôm nay, mà không phải thuốc."
Người nấu bột im một lúc lâu, rồi lấy bút gạch một dòng và viết thêm một dòng. "Ứng thì được. Giao trễ lượt nào thì trả gấp đôi lượt ấy, và tên ông với tên ông già bàn tính phải khắc vào thẻ nợ của dãy lò, ba nhà tôi không có thạch thừa để mất."
"Khắc cả tên ta à?" Lão hỏi.
"Ông đứng thu tiền thì ông đứng tên."
Lão cầm bút ký, chậm hơn mọi lần lão ký, và Mặc đặt ngón tay lên chữ thuốc bỏng trên tờ đơn. "Đây là đơn khác," hắn nói, "không phải đơn sáng đèn đổi tên. Sáu lượt tới ta giao không lấy tiền."
Khách dời hàng chờ khỏi quầy lễ, mang vật đựng tới gian lò của hắn từng người một. "Tiền ứng không phải tiền lời," Lão nói to cho cả dãy nghe, "bà con đừng mừng hộ ta."
Chủ hàng bốn cái ống sắt tới đúng phiên chợ, bằng chiếc đò ông ta đã hẹn, mặt vẫn bóng mỡ. Mặc kiểm từng ống với cái kẹp, nhìn từng hạt trắng, đối cái khấc trên mảnh sắt cong với đoạn ống vỡ của mình thêm lần nữa, rồi đếm một trăm hai mươi thạch ra bốn xâu.
"Bốn ống, bốn hạt, ông đếm," chủ hàng nói.
"Ta đã đếm hai lần," Mặc nói, "ông đếm lần ba cho an tâm."
Sáu trăm thạch vào tay lúc trưa, tới tối chỉ còn một trăm năm mươi. Bốn hạt đã ăn một trăm hai mươi, gạo giao lên núi một trăm sáu mươi, phần còn lại chia cho món nợ của Lão, tiền lò và sáu viên đan thường có niêm của một quầy khác, khí đục hơn đan hắn tự luyện nên rẻ hơn, đủ cho một tháng tu. Tên của người luyện thuốc ở góc cuối dãy đã nằm trên miệng chợ từ trưa, trước khi hắn kịp nói với ai.
Đêm ấy, Mặc ngồi cạnh Lão và nói điều ai cũng thấy mà chưa ai nói ra. Ở núi có tám người đang giữ thân bằng năm suất rưỡi hạt lửa, thiếu hai suất rưỡi, và bốn hạt nếp mới đang nằm trong ống ngay trước mặt hắn.
"Ba hạt về núi," hắn nói, "một hạt ta giữ, vì lần này không hạt nào của núi bị rút."
"Ngươi giữ một," Lão nói, gảy một hạt bàn tính, "ba hạt kia ta không hỏi, ta chỉ hỏi bao giờ chúng về tới núi."
"Tám ngày đường."
"Tám ngày," lão nhắc lại, "đường nào cũng dài gấp đôi lúc nói."
Rạng sáng ngày bốn trăm mười lăm, Nguỵ và người em mang ba hạt lên núi, qua những điểm trú đã kiểm, tám ngày thì tới. Người em ở lại nhận ca nhà, Nguỵ nghỉ một đêm rồi quay xuống cùng Mạnh Hà, và ngày bốn trăm ba mươi hai hai người về tới chợ. Cũng sáng bốn trăm mười lăm, Mặc đặt hạt nếp thứ tư trong ống lót tro lên đĩa sắt ở gian kín sau quầy, rồi ngồi xuống trước nó.
"Ngươi vào bao lâu?" Lão hỏi, đứng ở cửa gian kín.
"Tới khi hạt cháy hết, chừng ba mươi hai ngày," Mặc nói, "cứ mười ngày ta ra một đêm, nhóm lò cho đủ một lượt hàng, sáng ra ông Tần mang đi giao."
"Chừng," lão nói, "ta ghét chữ chừng, nó không có đáy."
Sáu viên đan thường, mỗi sáu ngày một viên, viên cuối nuốt vào ngày bốn trăm bốn mươi lăm. Ngày bốn trăm hai mươi tám chu thiên đứt giữa vòng vì vai trái không chịu nổi thế dẫn ngồi thẳng, cái đau đi từ bả vai xuống tới khuỷu và ở lại đó cả đêm. Hắn đổi sang tư thế thấp lưng, cái thế đã thử ba lần trên nền nhà, rồi đi tiếp, không đẩy cơn đau để đòi lên tầng.
Đêm bốn trăm ba mươi ba, đêm ra lò thứ hai, Tần Hưởng ngồi canh ở bậc cửa và nhìn hắn quấy nồi thuốc chăm tay tới gần sáng. Lúc hắn dừng lò, đặt đũa xuống, ông đưa mắt nhìn bàn tay phải của hắn rất lâu.
"Lần ra lò trước ta thấy tay ông run khi dừng lò, ta đã nghĩ tháng này ông không qua nổi," ông nói. "Đêm nay nó đặt đũa xuống rồi nằm yên luôn. Ta theo xe mười năm, người ta mạnh lên thì ta nhìn tay trước, mặt người ta nói dối được chứ tay thì ít khi."
Trong ba mươi hai ngày ấy, mỗi lần Lão ghi dấu giao thuốc lên thẻ chợ, vào ngày bốn trăm hai mươi bốn, ba mươi bốn, bốn mươi bốn, Tần Hưởng đều là người nhấc kiện thuốc đi trước và đứng bảo đảm với chủ lò. Ông đã xin Lão đổi người giữ hàng từ đêm đầu.
"Mười năm hộ hàng ta học được một điều, ông Khúc ạ, kiện rơi một lần thì tên người giao rơi theo," ông nói với Lão. "Khách không nhớ kiện nặng bao nhiêu, chỉ nhớ ai làm rơi. Người kia mới ra khỏi gian kín một đêm, đi ba bậc thang là run, để ta nhấc."
"Nợ ngươi còn trên sổ ta," Lão nói, "vai nào cũng phải đứng cho tới khi trả."
"Vai này thì đứng được," Tần Hưởng nói, và vỗ vào chỗ cổ tay trái treo trong đai bằng bàn tay phải, "vai kia thì ông đã biết."
Ngày bốn trăm bốn mươi sáu hạt nếp cháy hết, đế ấn trên trán hắn dày thêm một lớp mới, và khung đen vẫn đen, không đổi hình. Sáng ấy Mặc mở cửa gian kín và bước ra bậc cửa. Kiện thuốc đóng sẵn nằm ở bậc thứ nhất, và hắn nhấc nó lên bằng hai tay, đi qua ba bậc thang, lưng thẳng, vai nhói, không run. Tần Hưởng đứng ở bậc cuối, nhìn hắn đi hết, và khi hắn tới nơi thì ông đưa bàn tay phải đỡ lấy một đầu kiện thuốc.
"Kiện này ta giữ từ ngày đầu, ba mươi hai ngày ta mang nó thay ông," Tần Hưởng nói, "đợt này ông tự đi, người đã giữ nổi thì ta không đứng bảo đảm hộ nữa."
Lão Khúc đã ngồi sẵn sau quầy, nhìn hắn từ đầu tới chân. "Ngươi gầy đi một lỗ thắt lưng," lão nói, "còn túi thì sáu lượt tới vẫn gầy, vì tên ta đã nằm trên thẻ nợ của dãy lò."
Hứa lễ quan tới lúc hắn đặt kiện thuốc xuống quầy, vì quầy đã có khách xếp hàng chờ từng người một trước cái bảng nhận đặt thuốc mới viết lại. Gã nhìn hàng người, nhìn cái khăn buộc trán của Mặc, rồi nhìn đôi tay hắn đặt kiện thuốc xuống mà mặt quầy không hề rung. Gã đặt lên mặt quầy một thẻ gỗ sơn son khắc một ngày.
"Bốn trăm bảy mươi," gã nói, "ngày ấy lễ thử đèn, quầy thuốc này có gì để ta thử không?"

