Sáng ngày bốn trăm bảy mươi, Liễu thẩm đứng ở mép sân lễ với cái kéo nhỏ giắt ở thắt lưng và một tấm áo khoác vải thô gấp trên cánh tay, và bà chặn Mặc lại ngay trước vạch phấn mà không chào.
"Cả chợ bảo ông đấu để giành con bé nhà tôi về," bà nói. "Ông thắng thì người ta trả gì cho ông?"
"Chợ nói sai, bà đừng tin chợ," Mặc nói. "Niêm ghi hai viên đan và quyền bán thuốc của quầy ta, không ghi tên cô ấy, ta thắng thì cô ấy vẫn đứng ở chỗ cô ấy chọn."
Mấy người khách đứng gần nghe được, và một người nhổ vỏ hạt bí xuống đá rồi bỏ sang đứng ở phía bên kia sân. Liễu thẩm siết tấm áo vào ngực, giọng hạ xuống một nấc.
"Tôi không hỏi ông thắng hay thua," bà nói. "Tôi hỏi đánh xong thì có còn kịp không, khi xe đi ngay sau trống lễ lớn?"
"Đánh xong ta vẫn còn nói chuyện được với nó," hắn nói, "ta chỉ có bấy nhiêu."
Bên kia vạch, Tần Hưởng rút thanh kiếm sắt khỏi vỏ da, đưa chuôi cho hắn bằng bàn tay phải, rồi giữ lại thêm một chút khi ngón cái hắn lướt dọc sống kiếm tới chỗ đã nắn hôm trước.
"Chỗ cong cũ đấy, ông sờ thì nó vẫn ở đấy, đừng nắn thêm," Tần Hưởng nói. "Mười năm ta đeo nó chưa chém được ai, hôm nay ông chém hộ ta một lần cho nó khỏi tủi."
Mặc buông ngón tay khỏi chỗ ấy và không chạm lại nữa. Nguỵ đã ngồi xổm ở lối rời sân phía tây, lưng dựa cột, bên cạnh chỉ có Mạnh Hà giữ chiếc xe thuốc. Lão Khúc đứng trước án ghi, trải phẳng tấm biên nhận hai viên đã nằm trong áo Mặc từ ngày bốn trăm lẻ bảy, và người ghi lễ áo xám ngồi sau án với cuộn niêm, bản thứ hai của nó đã treo trên cổng đá từ hôm ký.
Ở đầu sân, cỗ xe dâng đầu tiên đã dừng cạnh cổng đá. Hoài Quang đứng trong hàng áo trắng, hai tay không ôm gì, và cô nhìn hắn bằng cái nhìn dành cho một người khách đến tiễn.
Trống lễ nhỏ đánh ba tiếng, và Hứa lễ quan bước vào vòng phấn với cây thước sắt bọc đồng trong tay phải, tay áo rộng buông tới cổ tay, đế ấn trên trán sáng đều, không bốc, chân trụ bên phải.
"Ở đây không có quầy cho ngươi đứng sau," gã nói. "Ngươi né ngang thì cứ né, vòng phấn này rộng hơn ngươi tưởng."
Mặc không đáp, chỉ đặt chân trái lên trước và để mũi kiếm thấp, mắt đặt trên cổ tay phải của gã chứ không đặt trên mặt gã.
Thước tới trước cả tiếng gió của nó. Cổ tay gã xoay ra ngoài, rồi ép xuống bản kiếm với sức nặng của người đã đứng sát bậc cuối Trúc Cơ, và Mặc lùi bằng chân, để thước hạ qua vai trái thay vì kê vai lên đỡ. Đầu đồng chỉ lướt qua lớp áo, nhưng cái vai cũ đã nhức lên từ chỗ xương tới tận khuỷu.
Gã không đuổi theo đường ép, tay áo rộng che mất lần thu về, và hắn chỉ thấy một vệt đồng loé lên dưới thấp.
"Lui!" Nguỵ hô từ lối rời sân, không to, nhưng đủ rõ để át cả tiếng người quanh vòng phấn.
Tám chiều ở bãi sau đã dạy chân hắn lùi theo nửa chữ của Nguỵ, nhưng cây thước thật nhanh hơn cái cán của Tần Hưởng, và chân phải hắn chậm nửa nhịp. Đường quét thấp ăn vào ống chân, xé toạc ống quần và lớp da bên dưới, máu chảy xuống mu bàn chân ấm và loãng, và hai hàng người quanh sân cùng hít vào một lượt.
Hắn không né ngang mà đi vòng theo mép phấn ba bước chậm để lấy lại chân trái đứng trước, rồi dừng lại, không nhường thêm một tấc nào. Hứa lễ quan nhìn cái chân rách, nhìn bờ vai trái hạ thấp hơn vai phải, và gã đổi chân trụ từ phải sang trái, chậm, đúng như hôm gặp người lưng gù không chịu nhường.
Mặc đưa nửa đầu đường kiếm ra, mũi kiếm chỉ thẳng vào ngực gã, không nhanh, đủ rõ để ai trong hai hàng người cũng thấy một đường đâm, và hắn chờ cái cổ tay xoay ra để đè nó xuống.
Cổ tay gã không xoay. Gã thu thước về sát người, khuỷu ép chặt vào sườn, và tay áo rộng nằm im, không mở ra một khe nào.
"Ba buổi sáng ngươi đứng sau vạch nhìn tay ta," gã nói, đủ nhỏ để chỉ hắn nghe, "ngươi tưởng người đứng trong vạch không biết nhìn ra ngoài à?"
Thước lại quét xuống thấp, lần này nhắm thẳng vào cái chân đang chảy máu. Mặc không còn thời gian để lùi cho kịp, và trong nửa nhịp ấy hắn làm điều duy nhất hắn đã xem tận mắt. Hắn đứng theo cách người lưng gù đứng dưới đòn gánh, hai chân gồng thành hai cái cọc, hạ cái vai trái hỏng xuống thấp hơn nữa mà không lùi lấy nửa bước.
Thói thì khó bỏ hơn nợ, Tần Hưởng đã nói thế, và cây thước rời đường quét, vòng lên cao rồi bổ xuống cái vai không chịu nhường, và để ép được từ trên xuống thì cổ tay gã phải xoay ra ngoài, khuỷu nhấc lên nửa tấc, dưới lớp tay áo rộng mở ra đúng cái khe hắn đã nhìn ba buổi sáng.
Đầu đồng đập xuống vai trái hắn, cái vai cũ kêu lên một tiếng trong xương, và Mặc để nó kêu. Mũi kiếm bỏ hướng ngực, đi theo đường cong xuống dưới, vào nếp trong khuỷu tay gã ở chỗ giọt dầu đã lọt vào hôm nào, và nó chỉ chạm vào đó chứ không đâm. Lớp hộ thân chỗ ấy mỏng như vải ướt, và cái gân nằm dưới nó giật lên một cái.
Bàn tay gã mở ra.
Cây thước tuột khỏi những ngón tay vừa tê, trượt từ vai hắn xuống bản kiếm đang đổi hướng, đè đúng chỗ cong cũ với cả sức nặng gã vừa dồn sang chân trái, rồi rơi thẳng xuống mặt đá lát với một tiếng đồng ngân dài. Thanh kiếm sắt rít lên đúng cái tiếng mảnh hắn đã nghe ở bãi sau, phần trên của bản kiếm gãy rời, bật lên xoay một vòng trong nắng rồi mới rơi xuống cách chân hắn hai bước.
"Tay!" Tần Hưởng quát từ ngoài vạch, cái tiếng duy nhất ông được phép ném vào vòng phấn.
Tay hắn vẫn nắm. Chuôi kiếm và một đoạn lưỡi dài chừng gang tay còn nằm trong lòng bàn tay phải, mép gãy lởm chởm, và máu từ ống chân hắn đã chảy tới vạch phấn.
Cả sân quay sang nhìn người ghi lễ. Ông ta không nhìn ai, cúi xuống án viết một dòng, rồi đọc to bằng đúng cái giọng đều ông đã dùng hôm ký niêm.
"Thước của lễ quan chạm đất trước, mũi kiếm gãy rơi sau, chuôi còn trong tay người bảo đảm, gãy mà còn trong tay thì chưa tính."
Tiếng ồ không bật ra ngay, và người nấu bột ở hàng đầu là người đầu tiên bước qua vạch phấn, không phải để reo, mà để đứng cạnh án nhìn tận mắt dòng chữ vừa viết, và hai khách đã dời hàng sang quầy thuốc đứng sau lưng ông, ngó qua vai ông mà đọc theo. Hứa lễ quan cúi xuống nhặt cây thước bằng tay trái, còn tay phải gã buông thõng bên sườn, mấy ngón tay co duỗi chậm, không nắm lại được.
Phu kho đứng sau án, ôm cái hộp đựng hai viên đan có niêm kho, và anh ta không đưa ra mà nhìn gã chờ lệnh. Gã đi tới án, nhìn tấm biên nhận Lão đã trải sẵn với dòng nhỏ ở cuối, trả sau lễ thử đèn, rồi mở miệng bằng cái giọng của ngày ở cửa nước.
"Kẻ không đèn," gã nói, rồi dừng.
Hai hàng người im phắc, và mắt gã đi lên tấm niêm thứ hai treo trên cổng đá, nơi dấu đồng của chính gã còn đỏ dưới nắng, và gã đứng thêm một lúc với nửa câu ấy trong miệng, rồi tự tay cầm cái hộp từ tay phu kho, mở nắp, đặt hai viên Tụ Khí Đan lên án, niêm kho còn nguyên trên giấy bọc.
"Trả hai viên cho quầy thuốc góc cuối dãy," gã nói, "đợt thuốc hiện tại được bán tiếp, có dấu của ta."
Gã đóng dấu đồng xuống tấm biên nhận, một nhát, gọn. Lão Khúc không reo mà nhặt hai viên lên bằng hai ngón tay, lật xem niêm, bọc chúng trong một mảnh vải sạch rồi bỏ vào túi áo trong, cái túi lão vẫn giữ tiền đợt.
"Sáu mươi ba ngày nằm kho lễ mà niêm không sứt một góc," lão nói với phu kho, đủ to cho hàng đầu nghe. "Kho quan giữ hàng của người khác kỹ thật, ta ghi ơn cái kho."
"Ngày bốn trăm tám mươi, lễ chính xong," Hứa lễ quan nói, lúc này mới nhìn thẳng vào Mặc, "ta xét lại đường bán của quầy ngươi. Hẹn ấy không cần niêm, ta tự nhớ."
"Ta cũng nhớ," Mặc nói.
Tần Hưởng đã cúi xuống nhặt mũi kiếm gãy, lau máu lẫn bụi phấn khỏi nó bằng vạt áo, và khi Mặc chìa chuôi kiếm ra thì ông nhận cả hai, xếp chúng nằm cạnh nhau trong cái vỏ da.
"Cọc bốn thạch ta giữ, kiếm gãy ông trả, thế là sòng," ông nói. "Nó chém được một lần trong đời, ta không tiếc."
Trống lễ lớn đánh lúc xế chiều, và từng cỗ xe dâng lăn ra khỏi cổng đá về phía bến lễ, nơi người được dâng ngồi chờ mười ngày tới lễ chính, và chiếc xe thồ phủ vải xanh đứng cạnh cổng đá từ mấy hôm trước cũng lăn theo cuối đoàn, không ai hỏi nó chở gì. Cỗ của Hoài Quang là cỗ thứ ba. Mặc đi tới đó trên cái chân băng tạm bằng một mảnh vải Lão xé từ vạt áo, mỗi bước đặt xuống lại thấm thêm một vệt đỏ, và vai trái hắn không nâng lên khỏi sườn được nữa.
Cô đứng ở chân bậc xe, áo trắng, tóc búi gọn, người kéo xe đứng chờ giữa hai thanh càng. Cô nói trước khi hắn kịp mở miệng.
"Cháu thấy ông thắng rồi, cả sân thấy, mẹ cháu cũng thấy."
"Ta thắng hai viên đan," hắn nói. "Giờ ta nói cho cô một lối khác, cô nghe xong thì tự chọn."
Chữ lối khác ra khỏi miệng hắn, và hắn nhớ cái then bật khỏi rãnh trong gian lò thuê, cái đêm bàn tay hắn đi tìm một thứ để nắm mà không biết định nắm để làm gì. Hắn nói chậm, rằng về núi với hắn thì cô có chỗ ăn chỗ ngủ, có người dạy đọc thẻ, cô tự tu, và đèn cô sáng tới đâu thì là của cô tới đó, còn đường về không yên, núi nghèo, đêm nào cũng phải có người canh.
"Ông đã thấy người bị thu," Hoài Quang nói. "Ông thấy người được dâng bao giờ chưa?"
"Chưa."
"Vậy ông cũng không biết người được dâng có về hay không."
"Ta không biết," hắn nói. "Ta chỉ biết người bị thu thì không ai về."
"Thầy cháu bảo nhà nào có người được dâng thì ba năm không phải nộp lễ, không phải khâu áo lễ cho nhà ai," cô nói, và lần đầu tiên giọng cô run. "Mẹ cháu vá tay áo ba lần rồi, ông ạ. Hôm ký niêm cháu đứng cuối hàng, cháu nghe ông bảo người ghi là không đặt người, thì giờ ông cũng đừng đặt cháu."
Hứa lễ quan đứng cách đó mười bước cạnh người ghi lễ, tay phải vẫn buông, và gã không cản, cũng không bỏ đi.
Bàn tay trái hắn đang tì lên vành bánh xe, ngay chỗ đầu trục gỗ thò ra, và lần này nó đã tìm được thứ để nắm. Một người kéo xe phàm không giằng nổi cái bánh ấy khỏi tay một người Trúc Cơ hậu kỳ, kể cả khi người ấy đứng bằng một chân, và hắn biết điều ấy rõ như biết vết rách dưới lớp băng. Hắn chờ trong ngực một tiếng, một chữ chặn hay một chữ để. Trong ngực không có tiếng nào.
Liễu thẩm bước tới, mở tấm áo khoác vải thô khoác lên vai con gái. Hoài Quang để mẹ cài nút cổ, rồi cô rút cây kim cắm ở ve áo ra, đặt vào lòng bàn tay mẹ và gập mấy ngón tay bà lại quanh nó.
"Mẹ giữ cây kim cho con," cô nói. "Khi con về, con khâu lại cái tay áo vá ba lần của mẹ."
Cô tự đặt chân lên bậc xe. Không ai đỡ, không ai đẩy, chân sau theo chân trước, và cô ngồi xuống chỗ của mình trên ván xe giữa hai người áo trắng khác. Mặc nhấc bàn tay khỏi vành bánh. Người kéo xe nhấc càng lên, và bánh xe lăn qua đúng chỗ tay hắn vừa đặt.
"Hoài Quang!"
Tiếng bà bật ra to tới mức người kéo cỗ xe sau buông một bên càng, và cả hai hàng người quay lại nhìn. Bà chạy theo được bốn bước rồi đứng lại, một tay nắm chặt cây kim, tay kia giơ lên giữa chừng mà không biết để làm gì. Trên ván xe, Hoài Quang quay đầu lại một lần, và cô không xuống.
Mặc không nói với bà rằng con bà sẽ về. Bà đi ngang qua hắn, không nhìn, không cảm ơn, theo vệt bánh xe về phía bến lễ.
Tối ấy, trong gian bếp thuê đã cài cửa, Lão múc canh xương với bí ra từng bát, và không ai ăn hết bát của mình. Tần Hưởng xếp vỏ kiếm có hai mảnh gãy vào bao hàng của ông rồi buộc miệng bao lại. Mặc tháo mảnh vải ban chiều, rửa vết rách bằng nước muối, đắp thuốc thường Lão mua ở quầy đầu chợ tám thạch, vì thuốc bỏng hắn luyện không dành cho một vết rách.
"Mai có dọn quầy không?" Lão hỏi, tay úp cái bát cạn của mình xuống ván. "Quan hẹn bốn trăm tám mươi, ở thêm mười ngày là thêm mười ngày quan đứng nhìn vào quầy mình, mà lượt thuốc của dãy lò thì vẫn phải giao."
"Giữ chỗ," Mặc nói, "còn người có thể muốn quay lại, mà quầy dọn đi rồi thì họ không biết tìm ai."
"Mười ngày ấy ta ngồi quầy với ông, không lấy công," Tần Hưởng nói, kéo bao hàng sát chân. "Ta hết nợ rồi, giờ ta được quyền ngồi ở chỗ nào ta muốn, mà chỗ ta muốn thì hôm nay ta mới biết."
Liễu thẩm gõ cửa lúc trời tối hẳn, xin một phần canh. Bà ngồi xuống mép ghế một lúc, nhìn Lão rót canh vào cái ống tre bà mang theo, rồi lấy lá chuối bọc miệng ống lại.
"Ở bến lễ người nhà được đưa cơm qua rào tới đêm trước lễ," bà nói, tay buộc nút. "Có một đứa áo trắng đứng trong rào hỏi tôi quầy thuốc góc cuối dãy mai còn mở không, tôi bảo còn."
Mặc đặt cuộn băng xuống. "Đứa nào?"
Bà đứng dậy, ôm ống canh vào ngực, và nói khi đã quay lưng ra cửa. "Không phải con tôi."

