"Đêm ấy ngươi chặn xe của ta."
Câu ấy tới khi Mặc đang ngồi trên chiếc ghế thấp trong gian kín sau quầy, chân phải gác lên thùng gỗ, ngón tay kẹp mép vải băng đã dính cứng vào vết rách từ chiều hôm trước. Rạng sáng ngày bốn trăm bảy mươi mốt, cửa gài then, cửa sổ phủ tấm chiếu thấm dầu, và Nguỵ vừa đi một vòng quanh nhà sau rồi gõ hai tiếng lên khung cửa, nghĩa là ngoài anh ngồi ở bậc thứ hai thì trong tầm tai không còn ai khác. Mặc dừng tay mà không hỏi nàng nói đêm nào, vì chỉ có một đêm mà nàng gọi bằng cách ấy.
"Ngươi nghe rõ rồi, đừng giả vờ mải tháo băng," Thẩm Chiêu nói.
"Ta nghe," hắn nói, "ta nghe từ chữ đầu."
"Chiều qua ngươi tì tay lên bánh xe nhà người ta, đủ sức giữ mà không giữ, ta ngồi đây chờ ngươi giữ vì ta biết ngươi giữ được, rồi ngươi nhấc tay ra." Giọng nàng khô, mỗi chữ đặt xuống đều tay, không chữ nào chồng lên chữ nào. "Giờ ta hỏi một câu mà cả cái chợ này không ai hỏi ngươi được, đêm ấy ngươi chặn xe của ta thì có hỏi ta chưa?"
Trong gian kín chỉ còn tiếng bấc cháy. Hắn thả mép vải xuống, và vết rách hở ra, đỏ và ướt, chạy theo đúng đường mà đầu thước đồng đã quét qua ống chân hắn hôm qua.
"Chưa," hắn nói, "ta không hỏi sư tỷ, ta chọn thay sư tỷ."
"Ngươi nói là để ta khỏi chết cũng được, nhiều người nói thế, vừa nói vừa tính công."
"Cái đó là hậu quả chứ không phải cớ, hôm qua ta thắng quan, cả chợ khen, ta suýt tin mình đã làm đúng hết cả." Hắn nuốt khan, rồi nói tiếp bằng giọng thấp hơn. "Cớ của ta chỉ có một, là lúc ấy ta muốn thế, và ta không có cớ nào tốt hơn."
"Suýt tin thôi cũng đủ để đem tới đây xin ta tha."
"Ta không xin."
"Ta cũng chưa nói tha, nhưng ta hỏi tiếp, vì ngươi sắp có người tới quầy rồi. Đứa áo trắng ở rào mà Liễu thẩm nói, nếu nó tới và nó vẫn muốn đi thì ngươi làm gì, qua cửa xe và qua cái thước của lễ quan à?"
"Để nó đi," hắn nói. "Nó chọn đường nào thì ta chỉ nó tới bến, đi hay ở là việc của nó, ta không kéo."
Hắn nói chậm, và nghe chính mình nói, hắn thấy câu ấy nặng hơn lúc hắn nói với cô gái bên bánh xe, vì lần này người nghe đã từng là người bị chặn. Chậu nước đặt trên bàn thấp cách ghế ba bước, chân phải không co được, nên hắn chống chân trái đứng dậy và kéo cả cái ghế sang gần chậu thay vì ngồi chờ ai đưa, chân ghế rít lên trên nền đất.
"Ta không có tay để ngươi nhờ, thế mà ngươi vẫn tự kéo ghế," Chiêu nói. "Ngươi sợ nợ ta thêm một cái chậu à?"
"Sợ."
"Vậy thì sợ cho đúng chỗ, cái chậu chưa bao giờ là món nợ của ngươi với ta."
Hắn rửa vết rách bằng nước muối rồi đắp lớp thuốc thường mua ở đầu chợ, tay còn dính muội đèn từ cái bấc hắn cắt dở tối qua, trong khi vai trái vẫn không nâng khỏi sườn. Nàng không nói thêm gì cho tới khi hắn buộc xong nút băng, rồi chỉ nói một câu, nhỏ tới mức Nguỵ ngoài cửa không nghe thấy.
"Ta ghi câu ngươi vừa nói, ghi không phải là tha."
Cũng sáng ấy, trên núi Vọng Tinh, Đỗ Nghi đứng ở sân sau dãy nhà gỗ và đưa chùm thẻ khoá cho Ôn đại nương bằng cả hai tay, vì ngón tay phải ông còn quấn vải mỏng ở chỗ da toạc. Em Mạnh Hà đứng cạnh, đã đeo sẵn tấm bản ghi bằng gỗ trên cổ.
"Tám ống, tám thân, không mở ống nào khi ta vắng," Đỗ nói. "Ấm ở mu bàn chân phải bằng ba ngón khum lại, nguội xuống hai ngón thì gọi bà, bà không có đó thì gọi em, ai kiểm mu bàn chân và ai giữ nắp ống thì ta đã viết lên tấm gỗ này, em đọc lại cho ta nghe."
Người em đọc lại, không sai chữ nào. Ôn đại nương nhận chùm thẻ, nhét vào túi áo, và nhìn ông lâu hơn lúc ông đưa, như nhìn kẻ sắp đi xa hơn cánh đồng.
"Ta giữ nắp ống từ trước khi ông biết thắt dây," bà nói. "Ông chỉ đi năm ngày mà dặn đủ cho năm năm."
"Năm ngày là sáu mươi canh giờ, bà ạ, mỗi canh nó có thể nguội nửa ngón," Đỗ nói, và chỉ về phía bãi đục gỗ dưới sườn núi. "Người đục gỗ không gánh nước, dù y xin."
"Y xin vì cái tay run, ông không hiểu hay sao?"
"Ta hiểu, nên ta mới dặn."
Ông chỉ mang túi dụng cụ nhỏ, hai cái kẹp tre và một cuộn vải, để hòm lớn nằm lại dưới giường cùng thanh kiếm cũ bọc vải dầu. Ba người bỏng ở chợ cần được xem lại sau ngày thử đèn và dược liệu còn thiếu thì chỉ mua được ngoài đó, đường đò rồi đường bộ mất năm ngày đi nhẹ, mà ngón toạc thì không chèo suốt một ngày. Người em sẽ chèo hai canh đầu, ông chèo canh sau. Xuống tới bậc đá cuối cùng ông không ngoái lại, vì ngoái lại thì ông sẽ nghĩ ra thêm một điều dặn nữa.
Trưa ngày bốn trăm bảy mươi hai, một chàng trai áo trắng bước vào quầy thuốc ở góc cuối dãy với một ống tre đậy lá chuối trên hai bàn tay và đặt nó xuống mặt ván thật nhẹ, tay buông ra rồi rụt lại ngay. Cách đó hai chục bước, Liễu thẩm đứng quay lưng dưới mắt một phu lễ đang ăn bánh, và đầu bà chỉ nghiêng về phía quầy đúng một lần rồi thôi.
"Ống của bà Liễu," chàng trai nói. "Bà đưa qua rào sáng nay, tôi chưa động tới, tôi trả cho đủ."
"Cơm ấy bà đem cho cậu mà," Mặc nói.
"Ăn thì tôi nợ, mà tôi không muốn nợ ai ở đây trước khi biết quầy này làm gì."
Cậu ta chừng mười bảy tuổi, tay còn dính màu chàm của tấm áo lễ chưa giặt. Cậu kéo vành khăn trắng lên, và dưới đó đăng ấn trên trán chỉ còn một vầng mỏng, sáng chập chờn mỗi lần cậu nuốt khan, ánh lửa của một người đang phải giữ nó cho khỏi tắt. Tần Hưởng ngồi ở ghế cuối quầy, cổ tay trái treo trong đai, và ông không đứng dậy, chỉ xoay người cho khuất tầm mắt phu lễ.
"Tôi hỏi cho tôi trước," chàng trai nói. "Nếu tôi không muốn dâng nữa thì tôi có được đi không?"
"Ta chưa thấy ai thử, ta không biết quan ghi gì cho người rút," Mặc nói, "ta chỉ biết đường ra tới bến, bên kia có chỗ ăn chỗ ngủ, có người dạy đọc thẻ, cậu tự tu, nhà nghèo, đêm nào cũng phải có người canh. Quan sẽ truy, không chắc kịp, nhưng sẽ truy."
"Đèn của tôi còn trên ván xe, cỗ thứ tư, chụp giấy đỏ, còn cháy," chàng trai nói, và đưa tay chỉ về phía bến lễ cách đó một dặm. "Người áo xanh chưa nhận."
Tần Hưởng lúc ấy mới lên tiếng, giọng ông chậm theo kiểu người kể chuyện bến. "Mỗi cỗ xe lễ chở một tấm ván đặt đèn của người dâng đi kèm với từng người, ta theo xe mười năm mà tới giờ mới biết tên nó, vì trước nay ta chỉ ký giữ. Đèn ấy chưa qua tay ai thì còn là của chủ nó, cậu đừng để nó qua." Ông ngừng một chút, rồi nói thẳng. "Còn đường tắt thì cậu đừng đợi ở ta, cái thẻ của ta hết chỗ ở mọi bến Thanh Vân rồi, ta chỉ còn biết đường nước cũ."
Chàng trai nhìn xuống mặt ván một lúc rồi mới nói. "Mẹ tôi ký sổ dâng vì nhà được miễn lễ ba năm, tôi xin rút thì lời xin ấy có thành lời tố mẹ tôi không?"
"Ta không biết quan sẽ ghi thế nào, và ta không nói trước cho cậu yên lòng," Mặc nói.
"Trong rào có bảy người ban đêm cũng nhìn ra cửa, tôi chưa hỏi ai."
"Cậu về hỏi từng người, hỏi một lần, ai bảo ở thì thôi, ta không cần đủ tám, một người cũng được."
Cậu bê cái ống tre về, vì phu lễ đã ăn xong chiếc bánh, và bước đi không vội, lưng thẳng. Liễu thẩm không nhìn theo.
Tối ấy Lão Khúc gõ ngón tay vào bàn tính, bảo quầy mình đã thành chỗ người ta hỏi đường rút, mà quan thì chỉ cần một ngày là biết. Lão đặt bốn mươi thạch xuống án người bán gạo ở chợ trên, nhận ở đầu tuyến một ngàn hai trăm vốc, chia nửa cho dọc đường và nửa cho núi, rồi bắt người bán viết rõ chỗ giao chứ không viết lời hứa.
"Quầy mình mà hết khách thì còn gạo," lão nói, "chứ quầy mình mà hết gạo thì khách có tới cũng chỉ thấy hai ông nằm đói."
Chiều ngày bốn trăm bảy mươi hai, người ghi lễ áo xám ngồi sau án nhận việc ở sân lễ với cuộn niêm mở sẵn trước mặt, và dân chợ đứng sau vạch phấn giống hôm đấu. Mặc đứng ở hàng cuối, ngoài vạch, đúng chỗ hắn đã nói với chàng trai là hắn sẽ đứng, chân phải còn băng. Hứa lễ quan ngồi cạnh án trên chiếc ghế cao, thước sắt đặt ngang đầu gối, tay phải mở ra rồi nắm lại hai lần, ngón út vẫn co chậm hơn mấy ngón kia.
Người ghi lễ đọc danh sách nhận việc áo lễ ngày mai, và chàng trai áo trắng là người đầu tiên bước khỏi hàng.
"Tôi xin rút khỏi sổ dâng," cậu nói, giọng khàn nhưng không vỡ.
Cả sân im hẳn. Người thứ hai bước ra, một cô gái hơn Hoài Quang vài tuổi, rồi người thứ ba, và họ đứng thành hàng ngang trước án mà không ai nắm tay ai. Tới người thứ bảy thì có tiếng thở ra ở hàng dân chợ. Người đàn bà thứ tám tóc đã lẫn bạc, áo trắng còn nguyên nếp gấp, đứng yên ở hàng sau với hai tay ôm vạt áo mà không ai giục bà, người ghi lễ chờ, Hứa lễ quan chờ, cây thước trên đầu gối gã không động, và Mặc đứng ngoài vạch cho tới khi bà bước lên ngang hàng với bảy người kia.
"Tôi xin rút," bà nói, và vì sợ mình nói chưa đủ, bà nhắc lại cả tên làng của bà.
Hoài Quang đứng giữa hàng áo trắng còn lại, môi mím chặt, và cô không bước ra. Người ghi lễ nhìn sang Hứa lễ quan, còn gã cầm thước bằng tay trái, đặt nó lên mặt án, và đọc không cần giấy.
"Người đã nhận áo, đã vào sổ dâng mà rút thì bị giữ chờ xử tội, không nộp tiền mà ra," gã nói. "Quầy thuốc kia thắng hai viên đan của nó, nó không thắng người, và biên bán thuốc không mở quyền huỷ lễ." Mắt gã đi qua vạch phấn rồi dừng ở chỗ Mặc đứng. "Đã vào hàng thì không còn chỗ đứng ngoài hàng."
Người ghi lễ rút tám thẻ gỗ khỏi khay bên phải, đặt sang khay bên trái từng cái một, và cả sân nghe tiếng gỗ chạm gỗ. Hai phu lễ bước tới hai đầu hàng ngang. Chàng trai áo trắng nhìn qua vạch phấn một lần, không xin gì, vì hắn không có gì để cho, chưa có đường nào để đưa họ đi, mà một nhát đánh giữa sân lúc này chỉ đổi tám người xin rút thành tám người bị trói. Họ bị dẫn về khu rào phía sau đền, nơi từ tối nay họ ngủ riêng, ăn riêng, và chỉ được ra nhận cơm dưới mắt hai phu thay vì một.
Đêm bốn trăm bảy mươi ba, Mặc ra lò đồng ở dãy lò thuê luyện nốt mẻ thuốc cuối cho lượt đã ứng trước, hết mười hai thạch dược liệu và công. Sáng bốn trăm bảy mươi bốn, Tần Hưởng giao hàng ở dãy lò bằng cánh tay còn lại, không thu một đồng, rồi đưa thẻ nợ cho chủ lò đóng dấu thứ sáu, và cái dấu đóng xuống gỗ, đỏ, gọn, cho Mặc biết quầy này chưa trốn được món nợ nào.
Họ ngồi nghỉ ở bậc đá bến dỡ, nơi nhìn ra nước, vì Tần Hưởng bảo ông muốn ngồi chỗ nhìn được cả con sông lẫn lối vào bến. Ông mở bao hàng cũ, lấy ra cái vỏ da và đổ vào lòng bàn tay phải hai mảnh sắt, một mảnh là chuôi gắn đoạn lưỡi dài chừng gang tay, mép gãy lởm chởm, mảnh kia là mũi.
"Ta cất nó để khỏi ai giẫm phải, ông lại định cầm đi," Tần Hưởng nói. "Được, lần này đừng trả thêm mảnh nào cho ta nhặt."
"Ta không đòi lại cọc," Mặc nói.
"Ta cũng không hoàn, cọc bốn thạch đã sòng." Ông đẩy chuôi kiếm về phía hắn. "Mũi ta giữ, vì nó không cầm được, còn chuôi thì cho ông mượn tiếp, mà mượn kiểu này thì không ai gọi là cho."
Mặc bọc mép gãy bằng mảnh vải thừa Lão xé ở vạt áo, vẫn còn dính muội đèn, quấn ba vòng rồi buộc chặt. Trên bậc dưới chân có một tấm ván dỡ hàng mục, hắn chống chân trái và đâm thẳng vào đó một nhát, mũi sắt ăn vào gỗ tới gần chuôi rồi rút ra gọn. Hắn thử đưa đường cong của thức hai, hạ cổ tay, và thấy chỗ lưỡi ngắn không đủ để uốn một vòng trọn.
"Nửa đường cong," hắn nói.
"Nửa còn hơn không, mà nửa ấy tay ông đã trả bằng một cái vai rồi," Tần Hưởng nói. "Nhớ nó chỉ là nửa."
Dưới bến, một cỗ xe thồ phủ vải xanh lăn tới thanh chắn gỗ đặt ngang lối vào, và người đứng cạnh xe không đợi phu mở. Y lấy cán một cây trường thương dài hơn cánh tay, gạt thanh chắn sang bên bằng một cái hất gọn, và khi cán thương chạm cọc thì chỗ hai đoạn gỗ chập nhau, bọc sắt, rung lên một tiếng lách cách rất nhỏ. Mặc nhìn khớp ấy, rồi nhìn lên.
Mũ y nghiêng, đăng ấn trên trán dày và tối, một thứ ánh sáng chìm của than phủ tro, thứ đế của người đã ngồi ở Đại Viên Mãn đủ lâu để không cần khoe. Phu giữ bến cúi xuống hỏi tên để ghi vào sổ cổng.
"Tống Hoành Chu, quản sự Thanh Vân," y nói, và chữ nào cũng vang tới cuối bến.
Tống quản sự bước vào mà không nhìn về phía bậc đá, cỗ xe lăn theo y qua cổng lễ, bánh nghiến lên đá lát. Tần Hưởng chỉ cằm về phía cổng.
"Cổng này trước nay chỉ nhận áo," ông nói. "Hôm nay họ đem cả cân bạc vào."

