Sáng ngày bốn trăm chín mươi mốt, Đỗ Nghi bày mười bốn cái chén sứt miệng trên hiên, mỗi chén đặt trước một ngọn đèn Lạc Thủy trên tấm ván xe, rồi rót đầy từng chén từ ấm trà nguội từ đêm. Chén cuối cùng ông đặt trước ngọn có cái chụp sứt một góc, ngọn của chính ông, và ông rót nó đầy ngang miệng, đúng bằng mười ba chén kia.
Lão Khúc đi ngang hiên với bao gạo trên vai, dừng lại đếm chén bằng mắt, và lão đếm hai lần mới tin con số.
"Ta bán trà ba chục năm," lão nói, "chưa thấy ai rót mười bốn chén mà không mời ai uống. Ông bày thế này thì người ta ngồi xuống lúc nào cũng được, mà lúc nào cũng thấy mình đang bị hỏi."
"Tôi hỏi thật," Đỗ nói. "Ai nghĩ xong thì uống chén của mình, tôi không hỏi người ấy nghĩ ra điều gì. Chén nào còn đầy thì chủ nó chưa nghĩ xong."
Người nhà sông tới từng người một, và với mỗi người Đỗ chỉ nói một câu, bằng cái giọng ông vẫn dùng để chỉ chỗ đóng cọc, rằng đèn dời lên án thì kỳ B đọc nó dưới tên Khải Phong, còn cả mười bốn ngọn cùng dời thì trên bảng không còn chữ Lạc Thủy nào.
"Cậu Mặc có bảo chúng tôi phải dời không?" một người đàn bà hỏi, bàn tay úp trên miệng chén.
"Tôi hỏi cậu ấy đúng câu ấy từ hôm qua," Đỗ nói. "Cậu ấy bảo ai ở thì ở, và cậu ấy sẽ không bước ra hiên cho tới khi mọi người trả lời xong."
Mặc giữ đúng lời. Suốt ba ngày hắn ngồi ở sân sau bên lò đồng đã dựng lại, tách vỏ rễ thuốc bằng tay phải cho mẻ đêm bốn trăm chín mươi ba, và mỗi lần ngoài hiên có tiếng chén đặt xuống ván, hắn ngừng tay một nhịp rồi tách tiếp. Đêm đầu Đỗ ra sau sân, đứng một lúc cạnh đống vỏ rễ rồi mới mở miệng.
"Tôi muốn giữ cái tên ấy," ông nói, "bốn đời nhà tôi chèo dưới cờ Lạc Thủy, nhưng tôi không muốn người đang sống trong nhà này phải sống như họ vẫn đứng ở bến cũ, đèn một nơi, tên một nơi."
"Ai muốn ở lại thì ở," Mặc nói.
"Cậu không hỏi thì họ vẫn biết tông này đang cần hạng," Đỗ nói. "Cứ để họ biết, đừng nói ra."
Mỗi sáng Lão Khúc đi ngang hiên đếm chén cạn, và Lau đi sau lão đếm lại cho chắc. Sáng thứ hai có năm chén cạn, chén đầu tiên là của một bà cụ nhỏ thó, uống từ lúc gà chưa gáy rồi úp ngược trên ván cho khỏi ai rót lại. Sáng thứ ba có mười một, và em Mạnh Hà uống chén của mình ngay trước mặt anh, rồi ngồi xuống bậc cạnh anh mà không nói gì, còn Mạnh Hà thì nhìn chén của mình lâu tới mức Lau phải kéo tay áo Lão Khúc đi chỗ khác.
Cũng bốn đêm ấy, Ôn đại nương ngồi trong gian giữ thân với đĩa sắt trên đầu gối, mồi cho bảy người theo thứ tự ai lạnh trước, hai người lạnh lại phải mồi thêm lần nữa. Tới đêm bốn trăm chín mươi tư, trong đĩa chỉ còn một hạt kê, hạt nhỏ nhất, nằm lẻ giữa tro của chín hạt đã cháy.
Chiều ấy Nguỵ về tới cổng núi cùng Lão và Tần, sau nửa ngày hộ đường giao lượt thuốc thứ tám xuống trạm chân Vọng Tinh, và anh ngồi xuống bậc cạnh lò đồng, nhận bát nước của Mặc rồi mới nói.
"Trạm có niêm. Cột đầu trạm, ký Tống Hoành Chu. Dán thấp, ngang đầu gối."
"Ngang đầu gối?" Mặc hỏi lại.
"Cho người ta phải cúi mới đọc được," Nguỵ nói. "Chủ lò đứng cách cột ba bước mà nhận. Trăm thạch, dấu thứ tám."
Lão thả túi tiền xuống bàn đá cạnh hai người, rồi chỉ ngón tay ra phía hiên.
"Mười hai chén cạn, hai chén đầy," lão nói. "Một chén của thằng Mạnh Hà, một chén của chính ông Đỗ. Ông ấy hỏi người ta ba ngày, mà chén của ông ấy ông ấy cũng chưa uống."
Đêm ấy chính điện thắp chín ngọn sống cùng một ngọn dầu thường cho người ta nhìn đường, và mười hai người nhà sông đứng ở ngưỡng, mỗi người ôm ngọn đèn của mình. Bà cụ nhỏ thó bước lên trước, nhưng bà không đi tới án mà đi tới chỗ Đỗ đứng.
"Sang kỳ mới thì trên bảng còn đọc tên Lạc Thủy không?" bà hỏi.
"Không," Đỗ nói, và bà hỏi tiếp rằng trời xếp bảng theo lẽ gì, bằng giọng của người từng hỏi giá ở nhiều chợ.
"Tôi không biết, tôi chỉ biết đọc cái bảng chứ không biết ai viết nó," ông nói, "và tôi không định giả vờ biết để bà bước cho dễ."
Bà cụ gật đầu, cái gật của người vừa nghe một cái giá không mặc cả được, rồi đặt ngọn đèn xuống sát chín ngọn mới. Chân đèn của bà vẫn mang dấu Lạc Thủy khắc chìm, và ánh lửa soi lên nó rõ hơn lúc nó nằm ngoài hiên. Mười một người sau lên theo cách của từng người. Một người đàn ông cao đặt xuống rồi lại nhấc lên, dời sang cạnh ngọn của vợ mình. Một cô gái băng một tay đưa mắt nhờ Hoài Quang kê lại cái chụp cho thẳng, và Hoài Quang kê, trên cổ áo thô của cô có một cái cổ áo trắng mới, mép lụa mịn, cổ thấp và mở, ai nhìn cũng biết nó không phải áo lễ. Em Mạnh Hà đặt ngọn của mình xuống, rồi lấy cạnh bàn tay gạt hai ngọn bên cạnh ra cho có một chỗ trống bằng đúng một chân đèn.
Ngoài hiên có tiếng chén đặt xuống ván, và Lão đứng ở ngưỡng nói khẽ, "Mười ba."
Mạnh Hà vào, bước chậm, chụp đèn kẹp sát hông theo thói quen kẹp cây sào, và cậu dừng ngay trước Đỗ.
"Tên cha tôi nằm dưới ngọn này," cậu nói. "Dời đèn rồi thì tên ông còn ở chân đèn không?"
"Còn, dấu Lạc Thủy khắc ở chân, tôi không đụng vào," Đỗ nói. "Dời đèn là đổi chỗ đặt, không phải đổi cha cậu."
Mạnh Hà đặt ngọn đèn vào chỗ trống em cậu đã chừa, nặng tay hơn cần thiết, rồi đứng sau lưng em, một bàn tay đặt lên vai nó. Đỗ nhìn hàng đèn một lúc rồi ra hiên, và người trong điện nghe ông nhấc cái chén cuối lên, uống một hơi, đặt xuống.
"Mười bốn," Lão nói, lần này to hơn.
Đỗ quay vào với ngọn của chính mình, cái chụp sứt một góc từ ngày nó rơi xuống nước. Ông đặt nó ở cuối hàng, lau chân đèn bằng tay áo, rồi ra kéo tấm ván xe rỗng vào dựa tường dưới hiên, và tấm ván nhẹ hơn ông nhớ.
Hai mươi ba ngọn cháy trên án, cạnh ba trăm bấc nguội nằm thành hàng. Mặc đứng trước tấm ván treo, xoá chữ chín bằng mũi dao rồi khắc bên cạnh, sống hai mươi ba, và vì cổ tay chưa liền nên số mới lệch cùng một phía với chữ cũ.
"Lạc Thủy không còn dòng nào ở kỳ B," Đỗ nói sau lưng hắn. "Cậu nghe cho rõ, tôi tự bỏ, không phải cậu đòi."
"Tôi nghe rồi," Mặc nói, và tay hắn không rời mũi dao.
Mười ngày sau đó lò đồng đỏ mỗi đêm, Lão đổi một trăm hai mươi thạch lấy gạo cho qua mùa mưa, và chiều năm trăm lẻ tư lão mang về cái thẻ tre gạch kín chín dấu, thợ lò không dám đặt thêm đơn nào vì niêm đã dán ngay cổng nhà hắn. Trả hết nợ và gạo, cả nhà còn tám mươi tư thạch, và Lão treo cái thẻ lên vách bằng cái đinh chắc nhất hiên, lẩm bẩm rằng đinh nhà này chỉ chịu nổi áo chứ không chịu nổi nợ.
Ngày năm trăm lẻ năm, Lão mang về sáu viên Tụ Khí Đan mua của một mối ngoài địa phận cấm, sáu mươi thạch, và Mặc xếp chúng cùng viên còn dư từ trước thành một hàng bảy viên trên bệ đá trong gian tu kín cạnh lò. Năm ngày một viên, bảy viên là ba mươi lăm ngày, và viên cũ hắn uống trước vì để lâu thì thuốc hao. Lần trước hắn đã hỏng ở gian kín sau quầy, đêm bốn trăm sáu mươi chín, khi ép dòng khí qua vai trái cho nhanh và cái vai trả lại bằng một đêm co giật. Lần này hắn dẫn khí vòng xuống sườn, nghỉ giữa mỗi vòng, bỏ hẳn lối qua vai, và vòng nào cũng chậm hơn hắn muốn.
"Ngươi ngồi lệch thì cứ ngồi lệch," Thẩm Chiêu nói từ trong ngực, giọng khô như cọ tay vào giấy nhám. "Cái vai ấy chưa từng xin làm người ngay ngắn."
Viên thứ tư thì hắn hỏng lần nữa. Dòng khí vòng xuống sườn phải chạm đúng chỗ xương đã kêu dưới cán thương của Tống, và hắn ho ra một ngụm máu lên vạt áo, nửa sức của viên ấy tan vào chỗ đau chứ không vào bụng. Sáng hôm sau Nguỵ thấy vạt áo phơi ngoài sân, đứng nhìn nó một lúc, rồi lấy than viết lên cái thẻ gỗ cắm ở góc sân một cái tên, tên người sẽ thay Mặc giữ đầu cầu ở lượt thứ hai. Anh không nói lý do, và Mặc nhìn cái tên mà không hỏi.
Từ viên thứ năm, sáng nào Ôn đại nương mang cháo tới cũng thấy bệ đá ướt sương khắp mặt, trừ một mảng khô và ấm đúng chỗ hắn ngồi, và mảng ấy mỗi sáng lại loang ra thêm một chút về phía mép bệ. Bà không hỏi gì, chỉ đặt bát cháo vào giữa mảng khô cho nó khỏi nguội.
Sáng ngày năm trăm ba mươi chín, sức của viên cuối cạn trong bụng hắn. Lửa trong người hắn không bùng lên mà dày thêm một tầng, đọng thành thứ nặng và nóng ngồi thấp ở đáy bụng, và khi hắn đưa tay lên trán thì cái đế dưới khung đen đã dày thêm một lớp, cứng lại thành gờ. Hắn đứng dậy, và trên bệ đá còn lại một mảng khô bằng đúng thân người ngồi, hơi nóng bốc lên mờ mờ trong ánh sáng sớm.
"Trúc Cơ Đại Viên Mãn," Thẩm Chiêu nói. "Trúc Cơ chỉ có chừng ấy tầng, ngươi đứng ở tầng chót rồi. Còn cái vai thì không lên tầng nào cả, ngươi biết rồi đấy."
Hắn biết. Vai trái vẫn dừng đúng chỗ cũ dưới ngực, và bây giờ hắn biết rõ nó dừng ở đâu và sẽ dừng ở đó cả đời.
Chiều ấy chín người xếp hàng trước cây cầu tập bắc trên hai khúc gỗ, Nguỵ cầm cán gậy đứng vai Tống, và Mặc đứng ở đầu cầu bằng tay phải, chân trái trước.
"Lượt một," Nguỵ nói. Cán gậy đập vào cổ tay phải Mặc hai lần, vào đầu gối trái một lần, và hắn dời người đúng nửa bước mỗi khi cần, trong lúc chín người qua cầu từng người một, chàng trai áo trắng đi cuối cùng, liếc hắn một cái khi đi qua.
"Lượt hai," Nguỵ nói. "Ta không nhẹ tay."
Anh nói đúng như vậy, cán gậy nhắm sườn phải trước, rồi cổ tay, rồi đầu gối cũ, và Mặc nghe cả ba nơi ấy kêu lên mà vẫn đứng, đếm chín người qua cầu không nhầm một lần, rồi đứng thêm hai hơi cho người cuối khỏi quay lại nhìn. Nguỵ hạ gậy, bước tới góc sân nhổ cái thẻ gỗ lên, và quẹt ngón cái ngang chữ than cho tới khi nó chỉ còn một vệt xám.
"Đủ hai lượt," anh nói, "ngươi giữ được."
Đó là câu dài nhất anh nói với Mặc trong cả tháng.
Chiều tối ở cổng núi, Đỗ khoác tấm áo đi đường lên vai, bọc bản đồ cuộn dưới nách, và Lão Khúc đang buộc nắp bình nước vào gùi. Lau chạy tới giữa lúc Mặc còn đứng thở, tay lấm bột, cắn đầu cây bút than.
"Ông Mặc ơi, ông nhớ hỏi người ta chữ Phong viết sao cho đúng nhé," cô bé nói, "có phải hai nét nhọn không ạ? Cháu muốn viết tên tông vào sổ trứng cho thật đẹp, mà viết sai thì nó thành tên tông khác."
"Ta nhớ," Mặc nói, rồi nhìn Hoài Quang.
Hoài Quang đứng sau cô bé, tay giữ quyển thẻ chép từ mảnh giấy dưới chân đèn của mình. Cô sẽ ở lại học, và cô đã nói điều đó với Đỗ từ đêm trước.
"Lượt canh tôi chia xong với bà Ôn và anh Nguỵ rồi," Đỗ nói, nhìn Mặc. "Ai giữ cổng, ai giữ đĩa sắt, ai đếm đèn, đều có tên trên vách."
"Còn sáu ngày tới kỳ bảng," Lão Khúc nói, kéo gùi lên vai. "Đi chậm cũng kịp, mà cậu có sáu ngày nghĩ xem mình muốn nghe tin gì."
Đỗ cài nút áo cuối, nhìn xuống con đường dốc về Đăng Thị.
"Tôi đi," ông nói, "họ viết kỳ mới thế nào thì tôi muốn tự mình đứng nhìn chỗ tên Lạc Thủy không còn, không ai đọc hộ tôi được."

