Sáng ngày năm trăm bốn mươi, Mặc bọc thanh kiếm cụt vào vải dầu và nhét xuống đáy gùi, dưới hai bộ áo thay, chứ không đeo bên hông cho người ta nhìn. Trong ngực, Thẩm Chiêu nhận xét rằng hắn giấu nó kỹ như giấu một món đáng giá, và hắn trả lời rằng chính vì nó chẳng đáng giá nên mới phải giấu.
Ba người đi nhẹ theo tuyến cũ của Lão, chặng đò rồi chặng bộ, không ghé bến Phụng Đăng và không đi qua một ngọn đèn thắp nào. Đêm đầu tiên ở quán ven đường, Đỗ cố buộc lại dây gói bản đồ bằng tay phải mà ngón cái không còn đủ lực kéo nút cho chặt, ông thử ba lần, đặt tay xuống đùi nghỉ, và Mặc lẳng lặng cầm đầu dây còn lại giữ cho ông thắt.
"Ngón này nó chưa quên là nó bị rách," Đỗ nói.
"Nó nhớ lâu hơn cái nút," Mặc nói.
Đêm năm trăm bốn mươi bốn, trên chuyến đò cuối, Đỗ ngồi sát mạn thuyền nhìn nước tối, và ông nói mà không quay lại, bằng giọng ông vẫn dùng để dặn người mới đứng đâu trên ván. "Sáng mai cậu đứng sau lưng tôi. Không đứng cạnh, không đứng trước. Chỗ ấy tôi muốn tự đọc, ai hỏi thì cậu cứ để tôi trả lời."
"Sau lưng," Mặc nhắc, và ông gật một cái, rồi ngủ ngồi trên ván đò với hai tay kẹp vào nách.
Lão gặp chủ hàng của mình ngay ngoài ranh, ở một cái quán chỉ có hai bàn, và lão ngồi với ông ta nửa buổi mà không bán được một viên thuốc nào, vì lão không mang thuốc. Lão chỉ ngồi nghe, và lúc bước ra quán lão mang một bản tin thay cho tiền.
"Từ sau đơn cuối của dãy lò, không ai trong hàng của ta dám đặt thêm gì dưới cái niêm của quan Hứa," lão nói, "thằng cha ấy cầm cân mà không dám nhìn mặt ta, mười năm mua thuốc của ta mà bây giờ nhìn ta thì ngó sang cửa. Ta không giận, ta nhẩm trong đầu xem cái giá thuốc nhà ta là bao nhiêu khi không ai dám mua."
Trên bảng chặn hàng ở cổng trạm cuối ranh, tờ niêm cấm bán đan Khải Phong vẫn dán nguyên nơi nó dán từ hôm lễ, phía dưới còn một khoảng gỗ trống. Mặc đọc hết, rồi trả tiền ngủ tám thạch cho đêm ấy, và trong lòng ghi lại rằng nhà còn mười sáu thạch.
Sáng ngày năm trăm bốn mươi lăm, cột cờ Đăng Thị đã kín người từ canh năm. Hơn chục tông cử người tới đọc bảng kỳ B, mỗi tông đứng thành một cụm riêng, áo màu riêng, chỗ đứng riêng, và giữa các cụm là những khoảng hở hẹp mà ai cũng cố giữ, vì ai cũng muốn một chỗ nhìn thấy dòng của mình trước khi người khác nhìn thấy. Người treo bảng là một ông già gầy, áo xám, mang theo cuộn bảng dài hơn chính ông, và ông chưa mở nó ra thì đã có người đẩy.
Lão chen lên trước một người cầm quạt, chân dẫm vào đế dép của ai đó mà không xin lỗi, và dừng lại ngay dưới cột.
"Để ta đọc trước," lão nói với Đỗ, không quay đầu. "Kỳ trước chín mươi tư dòng, ta đọc ba lượt không thấy chữ Khải Phong nào. Lần này lỡ có tên mình thì ta muốn nhìn từng nét rồi mới khoe, chứ mừng sớm xong thấy sai chữ thì cả chợ cười ta ba mùa."
Người treo bảng mở cuộn, và nó rơi xuống dọc cột, một con suối giấy toàn chữ đen. Lão đọc từ trên xuống, mắt chạy nhanh qua những tên lớn, những tên đã quen từ kỳ A, qua cả dòng Thanh Vân ở hàng đầu mà lão lướt nhanh hơn lướt một món nợ cũ, tới chỗ tên nhỏ bắt đầu dày đặc, rồi lão ngừng ở một dòng, quay lại đọc từ đầu dòng, và đọc tiếp nét cuối.
"Khải Phong Tông," lão đọc, giọng hụt đi một nửa, "hạng tám mươi bảy."
Cạnh tên có một đốm son nhỏ, cỡ hạt đậu, chấm bằng đầu bút lông còn ướt mực. Người treo bảng chỉ đúng ngón vào dòng ấy, không cần ai hỏi, rồi đọc dòng nhỏ viết bên cạnh theo thể lệ của bảng, rằng hai mươi ba ngọn đèn sống trên án kỳ này. Lão ngồi bệt xuống đất, ngay giữa chân người, vì hai đầu gối lão không chịu đứng cùng với tin đó.
"Ngươi nói rõ lại cho ta nghe," lão bảo người treo bảng, giọng vỡ ra thành một thứ gần với tiếng cười, "tám mươi bảy, đúng chữ tám mươi bảy, không phải tám mươi bảy từ dưới đếm lên?"
"Đúng chữ, từ trên đếm xuống, trong chín mươi tư dòng," ông già gầy nói, mặt không đổi, "cụ cứ ngồi, đất đây không tính tiền."
Người của một tông áo lam đứng cạnh nghiêng người sang một bên, nhường một khoảng trống trước cột cho Đỗ, và Đỗ bước vào khoảng ấy. Mặc đứng lại sau lưng ông, tìm tên mình trên bảng và không thấy chỗ nào, vì cột nào của cuộn giấy cũng dành cho đèn, mà hắn không phải đèn, nên hắn không tìm lần thứ hai.
Dưới chân cột, một người áo vàng dò ngón tay tới tận dòng chín mươi tư, dòng chót sát mép giấy trắng, rồi dừng ở đó. Kỳ trước tông anh ta đứng thứ chín mươi, và anh ta ngẩng lên tìm xem ai vừa chen vào phía trên, gặp đốm son còn ướt cạnh chữ Khải Phong, nhìn nó một lúc, rồi quay về cụm áo vàng bảo người trẻ nhất cuộn lá cờ nhỏ của tông lại. Phía cuối đám đông, một người áo xanh của Thanh Vân chép dòng Khải Phong vào tờ giấy của mình, xếp nó vào ống tay áo và đi thẳng.
Đỗ không nhìn dòng son mà mở bản kỳ A cũ Lão kéo về từ mấy tháng trước, trải nó lên cạnh bảng mới, đặt ngón trỏ vào dòng Lạc Thủy trên đó, rồi đọc tên hai tông đứng trên và dưới nó. Ông tìm hai cái tên ấy trên bảng mới. Chúng nằm sát vào nhau, dòng dưới kề ngay dòng trên, không chừa lấy một khe cho ai. Móng tay ông chạm vào chỗ hai dòng giáp nhau, lướt ngang một lần, và dừng lại.
Mặc vẫn đứng sau lưng ông, không nói rằng việc ông bỏ là đáng, vì hắn không biết nó có đáng không, và hắn không muốn dùng hạng tám mươi bảy để trả cho một thứ không đo được bằng hạng.
"Tôi ở nhà sông bốn đời," Đỗ nói, mắt vẫn đặt ở chỗ hai dòng giáp nhau. "Ông tôi bảo cứ nhìn bảng ra một chữ nhà mình thì biết mình còn sống. Bây giờ tôi không nhìn ra cả một chỗ trống, mà tôi vẫn biết mình còn sống, chỉ là tôi chưa biết nên coi cái ấy là cái gì."
Lão Khúc vẫn ngồi dưới cột, mắt theo người áo vàng đang cuộn lá cờ, và lúc ấy lão không nói đùa.
"Có tông lên thì có tông xuống," lão nói.
Đỗ mua của người chép cạnh cột một bản sao bảng mới, gấp đôi nó lại, rồi xếp chồng lên bản kỳ A cũ, đúng chỗ có dòng Lạc Thủy.
Một người đàn ông của tông áo lam, người vừa nhường chỗ, đứng chờ tới khi Đỗ xong mới cất tiếng.
"Ông là chủ tông Khải Phong?" anh ta hỏi, giọng không có ác ý mà có tính toán. "Phụng Đăng cấm đan của các ông mà các ông lên được tới tám mươi bảy, tôi muốn biết ông làm thế nào."
"Chủ tông thì ở ngay đây," Lão nói từ dưới đất, đưa ngón tay lên chỉ dòng chữ có đốm son, "ông cứ hỏi cái tên, nó biết nói hơn người."
Anh ta cười nhạt, nhưng khi bước đi thì ngoái lại một lần, nhìn về hướng Vọng Tinh chứ không nhìn Mặc.
Chiều tối họ về tới cổng trạm cuối ranh. Trên bảng chặn hàng, ngay dưới tờ niêm cấm bán đan, khoảng gỗ trống sáng nay đã có một dòng chữ mới, nét to và mực chưa khô hẳn, đóng dấu Tống Hoành Chu.
Đèn trên án Khải Phong là đèn bỏ lễ. Kẻ chở, kẻ chứa, cùng tội.
Người giữ trạm đang lấy dao cạo bớt mấy tờ giấy cũ quanh đó cho dòng mới nổi lên, và thấy ba người đứng đọc thì ông ta cạo chậm lại.
"Người Thanh Vân cưỡi ngựa qua đây từ giữa chiều," ông ta nói. "Dán xong mới uống nước."
"Hắn đọc bảng nhanh hơn ta," Lão nói, và lần đầu trong ngày lão không cười.
Tối ấy ở quán trạm, ba người ngồi quanh một bàn gỗ trơn, bát canh chưa động tới vì không ai đói. Lão trải bản đồ hàng mua hồi giữa tháng trước lên bàn, dùng chén làm chặn giấy, và hỏi Mặc muốn đi đâu tiếp.
"Phụng Đăng đóng với mình rồi, hạng tám mươi bảy không đổi được tờ niêm ấy," Mặc nói. "Tôi cần một nơi có chợ đan ngoài cấm, bán dược liệu cho Ngưng Kim Đan, và có thép."
"Thép cho cái kiếm cũ à?" Đỗ hỏi, và Mặc lắc đầu, nói rằng cho một thanh kiếm hắn không phải giấu trong gùi.
Lão lấy ngón tay vạch một đường từ Đăng Thị về phía tây, qua hai vết mực đánh dấu bến, và dừng ở một chữ nằm sát mép giấy, nơi nét vẽ chuyển sang màu cát.
"Mạc Châu," lão nói, "ta nghe người ta bảo chợ đan ở đó lớn gấp ba cái chợ lễ, lò nào cũng có thép đen, và dân ở đó đánh nhau lạ lắm, trán họ chói như đuốc, ta nghe vậy chứ chưa thấy. Ta chỉ đường cho cậu, ta không cho cậu cái giá, giá là việc của miệng cậu, mà cậu thì biết miệng cậu mặc cả dở thế nào."
Đỗ hỏi đường tới đó mấy ngày, và Lão đáp mười hai nếu không có ai kẹt cát, mười bốn nếu mang lò.
Mặc nhìn chữ Mạc Châu một lúc, rồi nhìn xuống bàn tay phải của mình. Hắn đã nghĩ tới hạt kê duy nhất còn lại trong đĩa sắt, và tới vết nứt chạy dọc sống thanh kiếm cũ nằm bọc dầu dưới đáy hòm ở núi. Cả hai thứ đều đang thiếu một nửa.
"Một lò đan với một lò rèn," Thẩm Chiêu nói trong ngực, "mà ngươi nhìn cái chữ ấy cứ tưởng hai thứ nằm sẵn ở đầu ngõ."
"Vậy ta về núi cùng cậu rồi hãy đi," Đỗ nói. "Lò đồng không thể bỏ trên núi không người, và cậu không thể mang nó tới nơi chưa biết ai là chủ lò."
Đoàn về núi bằng đường nhẹ, năm ngày từ Đăng Thị, và không lời nào về bảng đi trước họ. Chiều ngày năm trăm năm mươi Lau ngồi ngoài cổng với cuốn sổ trứng trên đầu gối, thấy ba bóng người lên dốc, và ngồi yên tới khi họ chạm bậc.
"Hạng bao nhiêu ạ?" cô bé hỏi, và khi Mặc đáp tám mươi bảy thì nó không reo mà cúi xuống ghi hai chữ Khải Phong vào sổ trứng, ngay dưới vạch quả trứng hôm nay, thêm số bằng một nét nghiêng, còn Hoài Quang ngồi cạnh đọc từng chữ và dừng ở chữ Phong để em tự viết hai nét nhọn.
Nguỵ nhìn hai mươi ba ngọn đèn trên án một lúc rồi ra giữ cổng, Đỗ đặt bản sao bảng lên bàn thấp ở hiên cho cả nhà đọc, và Ôn đại nương đưa Mặc bọc kiếm cũ, vải dầu còn nguyên nếp gấp.
Hắn mở bọc ngay ở bậc thềm, và ánh chiều hắt vào làm vết nứt hiện rõ, một đường kẻ chì chạy từ sống ra gần nửa lưỡi.
"Năm ngày nữa tôi đi Mạc Châu," hắn nói với Đỗ, "tôi cần kết Kim Đan và một thanh kiếm thật. Ông giữ lò đồng cho tôi, tới ngày tôi về."
"Cậu hẹn ngày về chưa?" Đỗ hỏi, và Mặc lắc đầu. "Vậy tôi đếm từ hôm nay," Đỗ nói, "tới khi nào cậu cho tôi một con số khác."

