Sáng năm trăm sáu mươi bảy, võ đài của dãy lò đã kín người từ lúc nước trong chum còn lạnh. Đài là một nền đất nện cao ngang đầu gối, viền gỗ bốn mép, ba mặt có ghế đá xếp bậc cho khách mua giáp ngồi xem, còn mặt thứ tư để trống cho đám đông đứng chen nhau và cho người của lò đi lại thu tiền. Lệ lò chủ ngồi ở hàng ghế thấp nhất, bên cạnh một khoảng ghế ông ta giữ cho Mặc, và Lão Khúc leo lên ngồi vào chỗ ấy trước khi Mặc kịp hỏi có được không. Cách đó vài bước, Diệp cô nương đứng giữa lối đi với một thùng nước và cái gáo dài, bán từng ngụm cho người khát.
"Người đứng đài hôm nay mặc giáp của ta," Lệ lò chủ nói, không quay đầu. "Y nợ ta tiền thuốc cho đứa con y, thắng thì ta trả công và xoá nợ ba kỳ, thua thì y trả bằng mùa sau."
Mặc nhìn xuống đài và thấy võ sĩ là một người đàn ông vai rộng, chừng ba mươi tuổi, mặc bộ giáp đen của dãy lò và cầm cái búa ngắn cán sắt, đứng ở góc đài phía trong. Ở chân đài, ngay lối bước xuống, một bé gái chừng bảy tuổi đứng đón với hai tay ôm cái áo ngoài thô của cha, to gần bằng nửa người nó, và nó không nhìn đài mà nhìn thẳng vào mặt cha, mỗi lần y cử động thì đầu nó xoay theo, chậm như mầm cây xoay về phía sáng.
Đối thủ bước lên từ phía bên kia, mặc giáp xám của một lò khác thuê, thấp hơn nhưng nặng chân. Khi chuông đài gõ, y không ra đòn đầu mà ép tới từng bước, mỗi bước chiếm thêm một gang, và cái búa của võ sĩ chỉ kịp đỡ được nửa số đòn đập xuống vai y. Tiếng khách cược giá vang lên rồi dồn dập. Tới nhịp thứ chín, gót chân võ sĩ đã lọt ra ngoài viền gỗ, trong khi Lệ lò chủ vẫn ngồi nguyên, hai tay đặt trên đùi, mắt không chớp.
"Ông ta chưa trả công cho ai khi người ấy chưa thắng," Lão Khúc nói nhỏ bên tai Mặc, "và ta nghe tiếng ngón tay ông ta gõ rồi đấy, nhẹ mà đều."
Võ sĩ nhìn xuống chân đài một nhịp, đúng lúc mắt con bé ngẩng lên, rồi hạ thấp thân và nắm hai tay lại trước ngực. Trán y chói lên, và ánh sáng bị nhấc cả lên khỏi ấn đèn, mỗi hơi thở một tầng, cho tới khi nó hắt trắng cả khuôn mặt cha, và ở chân đài con bé đưa hai bàn tay nhỏ lên che mắt, nhưng ánh xuyên qua kẽ ngón làm hai bàn tay nó trắng bệch như giấy dầu soi nắng. Búa của võ sĩ đi xuống một lần. Giáp xám lõm vào, nứt, rồi thủng một lỗ bằng nắm tay ngay giữa ngực, và người mặc giáp ấy ngồi bệt xuống đất, hai tay ôm chỗ thủng, không kêu được tiếng nào.
Khán đài nổ ra tiếng reo khi ánh trên trán võ sĩ rút xuống và ấn đèn mờ lại, và vẻ mặt y thay đổi theo cách Mặc chưa thấy ở ai, không đau mà trống ra, giống một gian nhà vừa dọn sạch đồ. Y bước xuống bậc, thở dốc, và bé gái chạy tới hết cỡ chân, giơ cái áo lên cao bằng cả hai tay, giọng vỡ vì chạy.
"Cha, áo cha đây!"
Y gạt tay nó đi bằng một cú không hung dữ, chỉ nhanh và gọn của người vừa bị một đứa lạ chìa đồ vào mặt giữa lúc đang thắng, và cái áo bay xuống cát. Người thu tiền của lò, đeo túi vải ngang ngực, bước nhanh tới cúi xuống nhặt nó, miệng đã mở sẵn câu trừ nợ thuốc kỳ này. Diệp cô nương tới trước ông ta nửa bước, nhặt áo lên, phủi cát, và đặt vào tay con bé trước khi ông ta kịp với tay.
Nàng nhìn thẳng vào mặt ông ta mà hỏi, "Áo vải thô đã sờn cổ, lò ông định bán cho ai mặc?"
Người thu tiền lùi lại, mặt đỏ lên, và nàng quay lưng về phía ông ta như quay lưng về một cái cột.
Con bé ôm áo cha vào ngực, không nhìn ai trong những người vừa cứu nó. Nó kéo cổ tay chiếc áo nhỏ đang mặc, lật mặt trong ra, chỉ vào một miếng vá vuông bằng chỉ đen, mũi may to và lệch, rồi giơ cổ tay lên ngang tầm mắt cha và nói, "Áo này cha vá cho con, cha sờ lại đi."
Võ sĩ cúi xuống, đặt hai ngón tay lên miếng vá, lật nó qua lại một lượt, như thợ xem hàng của người khác. Rồi y ngẩng lên nhìn quanh đám người, tìm một ai đó.
"Mẹ con đâu, sao để con bé đứng một mình ở chỗ này?" y hỏi.
Con bé hét lên, và tiếng hét xé qua tiếng reo trận thắng vẫn chưa dứt, cao tới mức hàng ghế đá gần nhất im đi một khoảng, "Cha nhìn con đi!"
Lệ lò chủ giơ một ngón tay, và một người của lò chạy tới đặt vào lòng bàn tay võ sĩ cái túi nặng nhất trong buổi sáng, rồi ghim lên ngực giáp y một chiếc ghim đồng khắc dấu nhận việc mới. Võ sĩ nhìn túi, nhìn ghim, gật đầu, và bước đi về phía cửa lò. Con bé ôm áo của cha đi theo hai bước phía sau, không dám chạm vào vạt giáp của y.
"Người quên vẫn đánh được," Lệ lò chủ nói với Mặc, mắt vẫn theo cái lưng võ sĩ. "Khách Thanh Vân mua đúng chỗ ấy."
"Y quên điều gì?" Mặc hỏi.
"Điều gì thì đài không ghi," Lệ lò chủ nói, "ta chỉ ghi công."
Trong ngực lặng hẳn, và Mặc chỉ cảm thấy Thẩm Chiêu đang nhìn qua mắt hắn, chăm chú giữa những người lạ vào hai bước giữ nguyên giữa cha và con.
"Ta định bảo cậu kiếm xong thép thì chạy về núi cho nhanh," Lão nói, mắt cũng theo cái lưng ấy, "bây giờ ta thôi nói câu đó."
Trước khi vào lò, lão kéo tay áo hắn.
"Thuê người luyện thuốc mà bắt ngồi xem đánh nhau trước," lão nói, "ông ta mua cả con mắt cậu cùng với hai bàn tay, để mai cậu luyện khỏi hỏi thuốc đổ vào ai."
Lò của Lệ Huyền Chước gồm ba cái lò than đen xếp thẳng hàng trong một gian dài, mỗi lò có một ông thợ giữ lửa không tên, và người thợ đứng ở lò thứ hai chỉ cái bàn đá bên cạnh, nơi các gói dược liệu đã cân sẵn nằm thành dãy. Dược liệu của lò chủ, lò của lò chủ, thành phẩm cũng của lò chủ, và Mặc là bàn tay duy nhất trong dãy ấy không có tên trên thẻ nào. Lệ lò chủ đứng ở cửa gian với chùm chìa trong tay, không bước vào.
Lò ở đây không đốt củi thông như lò đồng trên núi mà đốt than đá đen, thứ than bắt lửa chậm rồi giữ nóng rất lâu sau khi cửa gió đã đóng. Mặc hơ lòng bàn tay cách thành lò một gang để nghe nhiệt, đóng cửa gió đúng lúc bọt trong nồi nhỏ lại như vẫn làm ở núi, và lòng bàn tay báo cho hắn rằng nhiệt vẫn đang leo, chậm mà không ngừng, như nước dâng dưới chân đê. Ở lò thứ ba, cùng một thứ thuốc, ông thợ bên ấy vừa đóng cửa gió theo thói quen thì nồi trào bọt nâu rồi bốc mùi khét, và cả gian quay sang nhìn.
Mặc không chờ tới lúc nồi mình trào. Hắn nhấc cả nồi khỏi miệng lò bằng hai cái kẹp, đặt xuống khay cát, rồi múc nửa gáo nước từ vò của Diệp cô nương tưới quanh chân khay cho cát ướt hút bớt nóng, mắt không rời mặt thuốc. Bọt lắng xuống, lát sau lại sủi lăn tăn, và hắn để nồi nằm trên cát đủ ba nhịp thở rồi mới đặt trở lại miệng lò, rồi lại nhấc ra, cứ thế bốn lượt cho tới khi màu thuốc chuyển từ nâu đục sang hổ phách trong.
"Tay ngươi nghe lửa trước khi mắt ngươi thấy nó," ông thợ giữ lửa nói, khi hắn đặt nồi xuống lần cuối. "Than đá ở lò này bắt người mới hỏng ba mẻ đầu, ta giữ lửa ở đây mười năm chưa thấy ai không hỏng mẻ nào."
Chiều ấy ông bóp một viên giữa hai ngón, thả nó vào nước, nhìn nó tan đều rồi mới gật đầu. Ông thợ lò thứ ba úp cái nồi khét của mình xuống, đi sang đứng sau lưng Mặc suốt lượt thứ hai mà không nói một câu, mắt dán vào hai cái kẹp. Giữa lượt ấy sườn phải nhói, Mặc ngồi xuống bậc nghỉ một lúc cho hơi thở xuôi lại, và cả hai ông thợ cùng chờ hắn đứng lên chứ không ai đụng vào nồi.
Lệ lò chủ ghi vào sổ đúng một nét. Ông ta ứng cho Mặc một trăm hai mươi thạch, trừ dần vào công, và cấp cho hắn một ngăn trong dãy kho thấp dưới chân tường tây, nơi người làm công của lò cất đồ, chìa ngăn thì hắn giữ còn chìa cả dãy thì ông ta giữ. "Ứng không phải là cho," ông ta nói, và Lão nghe xong thì thở ra qua mũi.
"Bạc trả trước, công trả sau," lão nói khi hai người ra tới hành lang, "đó là cái dây, chỉ là dây bằng bạc nên nhìn dễ chịu."
Tần tới cổng lò ngay khi mặt trời nghiêng, sau chuyến hàng riêng của ông tới thành tối hôm trước, mang trên lưng cái cữ gỗ thông được quấn kỹ. Mặc đưa ông gần trọn số bạc ứng, đủ một xe hai nghìn bảy trăm vốc gạo ở chợ chính cùng tiền chỗ ở và cước tin, và hai mươi thạch còn lại hắn giữ trong túi áo.
"Nói với ông Đỗ ba điều," hắn dặn Tần. "Công bắt đầu từ năm trăm sáu mươi bảy. Xét đủ công vào ngày năm trăm tám mươi sáu. Dải vải trước sân dãy lò ghi lễ vào ngày năm trăm chín mươi hai."
"Ba điều ta nhớ được," Tần nói, và ông không cười. "Ta chở hàng ba mùa mà chưa nhầm một điều nào vào sai người." Ông đặt cái cữ gỗ vào tay Mặc, nói thêm rằng người đục gỗ dặn nếu lệch thì cứ gọt, người ấy không giận, rồi ông dắt xe gạo ra khỏi cổng để về núi, mười hai ngày đường.
Sang ngày thứ tư, Lệ lò chủ dẫn Mặc vào một gian kín sau dãy lò, mở một cái hòm hàng cũ bằng chùm chìa trong tay. Bên trong có những thỏi thép đen xếp trên khay, hai lọ dược Ngưng Kim Đan niêm sáp, và trong một ngăn lót nỉ là năm hạt sáng nhỏ cỡ hạt nếp, mỗi hạt nằm trong một lỗ riêng. Cạnh chúng có một mảnh vòng sắt đen cong, mép khắc rãnh cho một cái bấc.
"Phần công về sau của ngươi," Lệ lò chủ nói. "Hạt là lửa trời thu từ Kiếp Ma, ta mua lại phần nó để rơi, không hỏi tay ai để lại. Còn cái vành là của đèn trượng, mảnh gãy."
Mặc nhìn mảnh sắt và thấy nó cùng một độ cong với cái vành ở đầu cây trượng đen đã nằm ngang trước hiên tổ đường cũ của hắn năm nào, và hắn không đưa tay chạm vào. Hắn dùng kẹp thép nhấc một hạt lên, đưa nó lại gần lòng bàn tay trái, cách một đốt, cho tới khi da hắn nóng lên và rồi nhức, và hắn đặt nó về lỗ cũ, thả kẹp ra, lùi một bước. Hắn không cho nó đi vào người, dù chỉ qua một hơi thở.
"Ba hạt cho một lần kết đan, hạt thứ tư phòng khi hỏng," hắn nói. "Tôi muốn cân từng hạt trước khi nhận việc, đủ cỡ nguyên rồi mới nhận."
Lệ lò chủ hỏi, "Ngươi không tin ta?"
"Tôi tin cái cân."
Lệ lò chủ lấy ra một cái cân tiểu ly, và Mặc cân từng hạt một, đọc phần trọng lượng cho ông ta ghi vào sổ, cho tới khi bốn hạt đều đủ cỡ. Hòm đóng lại, chìa trở về tay ông ta.
"Bốn suất ấy trả bằng công, xong trước ngày năm trăm tám mươi sáu," ông ta nói. "Lửa trời vào thành này thì phường lò giữ sổ, luật thành định thế từ trước đời ta. Hạt trả xong thì là của ngươi, nhưng chỉ được đốt trong lò có tên trên sổ phường, mà sổ ấy ta giữ."
Ở ngưỡng cửa gian kín, một người áo xanh Thanh Vân đang đứng chờ, và y nói mà không nhìn Mặc lấy một lần, "Giáp ở xe thứ hai phải thử xong trước ngày năm trăm tám mươi chín."
Đêm năm trăm bảy mươi, trong gian trọ kín, Mặc thay chiếc áo dính thuốc, treo nó lên cọc cửa cho hơi thuốc thoát bớt, rồi ngồi xuống chiếu với bát canh nguội và nửa cái bánh khô. Ngoài hẻm có tiếng một chiếc xe than đi qua. Hắn múc được hai thìa thì Thẩm Chiêu lên tiếng.
"Y không có đan," nàng nói, "y đập thủng giáp bằng lửa trên trán mình, và cái y trả là đứa trẻ đang đứng trước mặt y."
"Ta thấy," hắn nói.
"Ta đoán chủ lửa tự đốt được lửa mình, và cái cháy đi là ký ức," Thẩm Chiêu nói. "Mới thấy một người, ta chưa dám gọi là luật."
Hắn không đáp, nàng chờ một lúc, và khi nàng nói tiếp thì giọng không đổi, vẫn khô và đều.
"Nếu ta đốt một chuyện thì sao?"
Hắn đặt cái bát xuống chiếu mạnh tới mức nước canh nguội tràn lên ngón tay. Hắn nhìn nó chảy xuống cổ tay rồi để nó chảy.
"Không," hắn nói.
Hắn không nói thêm lý do, không kể tên đứa bé hay miếng vá, và hắn không hỏi nàng đã nghe rõ chưa, vì hắn biết nếu hỏi thì nàng sẽ trả lời bằng đúng cách nàng vẫn trả lời. Trong ngực yên lặng chừng vài nhịp thở.
"Rèn xong ngươi đặt kiếm ở đâu," nàng hỏi, "ở gian trọ này hay ở lò?"
Hắn trả lời nàng về chỗ đặt kiếm, và suốt lúc đó bàn tay hắn vẫn giữ nguyên trên miệng bát đã nguội.

