Sáng năm trăm tám mươi chín, sân giao giáp của dãy lò dựng ba hàng giáp lửa trên giá gỗ, bộ nào cũng úp một chiếc mũ sắt xuống đỉnh, và ở đầu hàng thứ nhất có một người đang tháo một khớp giáp bằng hai ngón tay. Người ấy đẩy chốt bằng ngón cái, nghe tiếng bật bằng ngón trỏ, đặt khớp lên tấm lụa trắng trải sẵn rồi lật mặt trong ra soi rãnh dưới nắng, và gấu áo trắng của y dính một lớp bụi đá xám mịn, thứ bụi chỉ có ở những chỗ đá vừa bị đục vỡ.
Mặc đến sân theo lời gọi của lính lò để nghe điều khoản công, và Lão Khúc đi sau hắn nửa bước, tay vẫn giữ chặt cái hộp gỗ trong ngực áo. Lệ lò chủ ngồi ở bàn cạnh giá, trên bàn có một tờ giấy dài chưa ký, và mảnh giáp thủng ba lớp hôm nào nằm trên góc giấy làm chặn gió. Khi thấy người tháo giáp đặt khớp xuống, Lệ lò chủ đứng dậy trước cả khi Mặc tới gần bàn, và đó là lần đầu hắn thấy ông ta đứng dậy đón một người.
Giữa trán người kia có một ấn đèn lồng nhỏ bằng giấy mỏng, khung đen, lửa trắng xanh đứng yên như bấc nến trong buồng kín, và Mặc đo khoảng cách giữa nó với ấn đèn dầu vàng của Lệ lò chủ rồi thôi không đo thêm nữa. Khi y ngẩng lên, mặt y trẻ, gầy, sạch, và đôi mắt không có chút vội vàng nào.
"Thiếu chủ Bạch Dạ Ly của Thanh Vân," Lệ lò chủ nói. "Ngài đến mua lính đốt đèn cho Thanh Vân từ sáng nay."
"Tông ngươi tên gì?" Bạch Dạ Ly hỏi, và đó là câu đầu tiên y nói với Mặc.
"Khải Phong," Mặc đáp.
"Hạng tám mươi bảy," y nói, như đọc một dòng trong sổ. "Ta hỏi tên tông trước tên người, vì người thì đổi, còn tông thì ghi lại."
Y cầm mảnh giáp thủng từ góc giấy lên, ngón cái dò lỗ tròn, từ mép ngoài vào tới mép trong, rồi đặt nó xuống đúng chỗ cũ, và hành động ấy làm Lệ lò chủ khép miệng lại, vì chính ông ta cũng chưa từng đặt mảnh giáp ấy ngay ngắn như thế.
"Toán lính này mùa sau đứng hàng đầu thay đệ tử tông ta, và giáp của họ bị một thanh kiếm thường xuyên thủng ba lớp," Bạch Dạ Ly nói. "Mua người không phải để nhìn họ chết, nên ta cần biết thanh kiếm ấy mạnh tới đâu trước khi trả tiền."
"Thanh kiếm của một tay luyện thuốc thì chưa đáng để thiếu chủ tính toán," Lệ lò chủ nói, và giọng ông ta hạ xuống một bậc.
"Một thanh đủ để tính," Bạch Dạ Ly nói.
Lệ lò chủ im một nhịp rồi gật đầu, vì ông ta cần người trong sân thấy tay luyện thuốc của mình đứng thấp hơn khách một bậc. "Tay của tôi, thiếu chủ cứ thử, còn giáp lõm hay thủng thì ngài trả phần giáp ấy theo giá đã ký," ông ta nói.
"Ta trả," Bạch Dạ Ly nói, và y không nhìn tờ giấy lấy một lần.
Y quay sang Mặc, cầm lên một tấm giáp cùng cỡ với loại đã bị xuyên, hơ nó trên chậu than cho rãnh mặt trong bắt lửa, rồi xách nó bằng tay trái, đưa ra trước thân, cánh tay duỗi thẳng. "Đâm lại nhát ấy vào tấm này trong tay ta. Đâm hết sức ngươi có, đừng giữ."
Lão Khúc kéo tay áo Mặc, nói rất nhỏ, "Đâm thủng thì ông chủ giận, đâm không thủng thì cậu mất mặt, ta cân mãi chẳng thấy đằng nào có lời."
"Đâm hết sức thì cả sân thấy tôi tới đâu," Mặc nói, "còn tôi thì muốn biết người mua giáp này đỡ một nhát Châm ra sao." Hắn tháo vỏ khỏi thắt lưng, đưa cho Lão giữ, rồi rút kiếm.
Ở mép sân, ngay sau hàng rào, Diệp cô nương đứng với cái rổ cói trên hông, vì lối từ sạp nàng tới chợ lò chạy ngang đây, và nàng không đi tiếp.
Hắn kiểm xem tay phải còn run không và thấy nó yên. Bụng hắn đã bớt nóng sau hai ngày nằm, đường khí bị bẻ gãy đã khép lại tới chỗ chịu được một nhát đẩy ngắn, và chân hông vẫn truyền lực nguyên vẹn khi mũi kiếm chỉ cách đích một sải tay. Hắn dồn tất cả vào mũi kiếm, không giữ lại một phần nào cho ngày mai, và đâm.
Mũi thép đen đi thẳng vào giữa tấm giáp, nhanh và chính xác như vết phấn của thợ rèn, và tấm giáp rạn ra từ tâm thành một mạng nhện, lõm xuống sâu bằng nửa lòng bàn tay, ba vòng lửa trong rãnh tắt từng khúc một. Hai người lính lò ở gần giá lùi một bước, một người làm rơi chiếc mũ sắt đang cầm, và Lệ lò chủ nhướng mày, đó là cử động duy nhất ông ta cho phép mình.
Bạch Dạ Ly không lùi. Tay trái y thuận theo sức đâm, nhường lại đúng bằng đà của mũi kiếm, nên không có một chút kháng cự nào để Mặc dựa vào, và y xoay cổ tay nửa vòng. Gờ giáp cong lên bắt vào sống kiếm, trượt dọc nó tới chỗ gần chắn tay, rồi chui vào kẽ giữa ngón cái của Mặc và chuôi kiếm đúng lúc ngón cái ấy đang dồn đà đẩy. Mặc thấy cổ tay mình bị kéo đi theo một đường nó không muốn đi, và hắn làm điều mọi người vẫn làm lúc ấy là rút tay về cho nhanh.
Chuôi kiếm lăn khỏi lòng bàn tay hắn. Nó đi qua ngón cái, qua gờ giáp, rơi vào bàn tay phải đã mở sẵn của Bạch Dạ Ly, và y nắm lấy nó như một người nhận món đồ đã đặt trước.
"Ngươi đâm chính xác," Bạch Dạ Ly nói. "Chính xác thì ta cũng thấy được."
Diệp cô nương đã bước tới hàng rào, tay đưa ra như định nhận lại cái vỏ, và nàng dừng lại khi thấy thanh kiếm nằm trong tay người khách, rồi từ từ rút tay về dưới rổ cói. Không ai trong sân cười, nhưng một người lính lò ho khẽ, và tiếng ho ấy nghe còn khó chịu hơn một tràng cười.
Mặc đứng yên, ngón cái tê dại như vừa bị dập bằng một cây búa nhỏ. Hắn không nghĩ mình yếu đi, vì nhát đâm vừa rồi mạnh hơn bất cứ nhát nào hắn từng đâm, vết lõm kia đủ chứng minh điều đó. Hắn nhìn tấm giáp lõm trong tay trái người kia và hiểu ra một điều trong lúc ngón cái còn tê. Tấm giáp không hề chặn mũi kiếm, nó lùi theo mũi kiếm đúng bằng đà hắn đẩy, nên sức hắn dồn càng nhiều thì cổ tay y càng có sẵn đà để xoay. Cái hắn chưa biết là làm sao đâm hết sức mà không đưa đà ấy vào tay kẻ đón.
"Đường đâm của ngươi chỉ có một đường," Bạch Dạ Ly nói thêm, không hề có vẻ đắc thắng. "Mạnh đến đâu mà chỉ đi một đường, người đứng đúng chỗ nào cũng đón được."
Y trở thanh kiếm lại, đặt nó lên mặt bàn, chuôi hướng về phía Lão Khúc, và Lão bước tới nhận bằng cả hai tay như nhận một đứa trẻ vừa bị phạt. Rồi Bạch Dạ Ly ký tờ giấy của Lệ lò chủ ở dòng cuối, hai toán lính, giao trước lễ, và y đi khỏi sân mà không quay lại nhìn Mặc thêm lần nào.
"Đâm xuyên giáp ta bán cho khách, vậy mà vẫn bị người ta lấy mất kiếm khỏi tay," Lệ lò chủ nói, và ông ta nhấc mảnh giáp thủng từ góc giấy lên, nhét nó xuống dưới tờ khế như giấu một vật ông ta không muốn ai nhìn lâu hơn nữa. "Luyện thuốc thì không phải cầm kiếm, ngươi nên nhớ thế cho kỹ. Công bốn mươi thạch giao sáng năm trăm chín mươi ba, ngươi ký ở đây."
Mặc ký. Hắn viết tên xong thì đặt bút xuống bằng tay trái, vì ngón cái bên phải vẫn chưa đủ sức giữ cán bút.
Ra tới hành lang, Lão Khúc đi chậm cho kịp bước hắn, nhìn chiếc vỏ trong tay mình và nói, "Bị hỏi tên tông trước tên người, bị lấy kiếm trước mặt cả sân, cậu thấy nhục không?"
"Có," Mặc nói.
"Vậy thì tốt," lão nói. "Nhục mà không thấy mới là nhục thật, còn nhục mà thấy thì còn chỗ để sửa, và ta sống cả đời bằng những chỗ để sửa của người khác."
Chiều năm trăm chín mươi, ở lán sau sạp, hắn mở cuốn sổ ra trên đầu gối và vẽ lại một bàn tay. Hắn vẽ ngón cái, vẽ gờ giáp, vẽ đường kẽ nơi chuôi kiếm đã lăn qua, rồi dùng một nét chấm nhỏ đánh dấu chỗ ngón cái của người kia đã mở ra đúng lúc, và ghi bên cạnh rằng cổ tay xoay nửa vòng theo đà chứ không đẩy lại. Hắn không ghi cách phá nó, vì hắn chưa biết, và ghi một cách phá chưa nghĩ thì chỉ để tự lừa mình vào một ngày nào đó.
Lão bắc cái thớt lên bàn, xắt củ mài khô cho bữa tối, và nhờ hắn giữ đầu thớt bằng tay phải. Hắn đặt cán gỗ tập xuống, nhấc tay lên giữ thớt, và nhận ra ngón cái vẫn còn tê tới nỗi không cảm được vân gỗ.
"Ta hỏi thăm ông bán rượu đầu dãy rồi," lão nói, vừa xắt vừa không ngẩng đầu. "Người ta bảo vị thiếu chủ ấy từ nhỏ tới giờ chưa mất thứ gì mà ai nhớ được, nên y đón đòn kỹ như người chưa từng phải đỡ vụng."
Mặc không đáp, mắt vẫn ở chỗ nét chấm trên hình vẽ bàn tay, nơi ngón cái người kia đã mở ra mà không cần nhìn.
"Để ta thử cái cán xem," Lão nói, và lão cầm cán gỗ nghiêng theo đường hắn vừa vẽ, ngón cái bật nhẹ vào chuôi. Chuôi trượt nhẹ nhưng không rơi, vì lão chỉ chạm được vào chuôi chứ không có cái cổ tay nào đi theo nó. "Ta chạm được cái cán, còn cái cổ tay thì ta để lại cho người trẻ, vì tay ta tập cả đời mới biết mặc cả chứ không biết xoay."
"Vẽ cả bàn tay hắn à," Thẩm Chiêu nói trong ngực, giọng khô như rơm. "Ta tưởng ngươi chỉ thiếu chỗ đặt ngón cái."
Hắn không cãi, vì nàng nói trúng, và vì nàng chỉ nói đúng một câu ấy rồi im. Hắn nhấc cán gỗ lên, đặt ngón cái xuống thấp hơn mọi lần, đâm một nhát chậm vào khoảng không, và cảm thấy cái chuôi trong lòng bàn tay mình nằm sâu hơn một chút. Hắn thử thêm mười nhát nữa vào cái cọc ngoài hiên, nhát nào cũng thẳng và mạnh. Mỗi nhát hắn buộc mình dừng ở nửa đường một nhịp ngắn để cổ tay biết rằng nó có thể đổi hướng, và nhịp dừng ấy làm hắn thấy lạ như đi ngược một con dốc quen.
Đêm năm trăm chín mươi mốt, cả con đường từ lán tới sân lò đã đầy những hàng đèn dầu thường. Chúng được dựng thử trên mọi bậc cửa, mọi gánh hàng, mọi mép tường, người ta thắp lên một lượt để xem cái nào tắt trước, và hơi dầu bốc lên thành một lớp sương vàng thấp ngang đầu gối. Diệp cô nương đứng trên một cái thùng rỗng ngay đầu ngõ, buộc lại dải vải đỏ sẫm báo ngày lễ năm trăm chín mươi hai vào cọc sạp, vì gió ban chiều đã làm nó bung một góc.
Mặc đứng giữa lối đi để nhìn. Hắn giơ bàn tay phải lên trước một hàng đèn, và bóng bàn tay không rơi xuống đâu cả, vì ngọn đèn nào cũng rọi nó từ một phía khác. Bóng do ngọn này đổ xuống thì ngọn kia rọi cho nhạt đi, cho tới khi mặt đất dưới chân hắn chỉ còn là một vùng vàng đều. Hắn nhìn lòng bàn tay mình, nhìn nền đất không còn cái bóng nào của nó, và không động đậy một lúc lâu.
Hắn lấy cuốn sổ ra, lật qua trang vẽ cổ tay tới dòng tám chữ ghi ở lán sau cái hầm vỡ, nhìn nó rất lâu, rồi ghi một dòng mới ngay dưới, ngắn hơn dòng nào trước đó. Rồi hắn đóng sổ lại, bước tới đầu ngõ, ngửa mặt hỏi cô gái đang buộc dở nút vải trên cao.
"Đêm mai, chỗ nào trong thành thắp nhiều đèn nhất?"

