Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 2 · Thiên Hạ Bảng

Chương 32: Chỗ giáp phải mở

10 phút đọc·

Mục lục18 px

Quán nước đắng ở đầu ngõ đối diện cổng sân lò mở cửa từ canh năm, và sáng ngày sáu trăm lẻ bảy cả năm người ngồi quanh cái bàn thấp nhất, chân bàn kê bằng hai viên gạch vỡ cho khỏi lắc. Lão Khúc bưng chén nước đen sánh như nước hầm vỏ cây, nhấp một ngụm rồi nhăn mặt như vừa nuốt phải đồng xu.

"Ta gọi nước đắng cho tỉnh, ông chủ quán bán thêm đường thì hóa ra ta phải trả tiền để ngủ lại," lão nói, và lão liếc hũ đường bé xíu đặt giữa bàn bằng con mắt của người vừa bị tính thêm tiền.

"Ông ngồi quán này ba bữa rồi, mà bữa nào cũng than đắng," Diệp cô nương nói, tay phải đè một tờ giấy lên mặt bàn cho nó khỏi cuộn, tay trái cầm bút chấm vào nghiên mực nhỏ bằng nắp hũ. Thất ngồi cạnh nàng, giữ hai đầu tờ giấy bằng hai ngón tay và đẩy nghiên mực lại gần mỗi lần nàng ngừng bút, không nói một câu nào.

"Thư gửi Lau ở núi, nhờ Hoài Quang đọc lại cho Lau nghe," nàng nói với Mặc khi thấy hắn nhìn sang. "Ta dạy Lau hỏi giá cả cân trước, rồi mới xin thêm một nhúm. Cứ nhìn quả cân trước, đừng để họ lấy một nhúm thêm mà che đi chỗ cân thiếu, nhớ dặn Lau như thế."

"Thư đi ngày mai, tới nơi ngày sáu trăm mười chín, lúc ấy chuyện hôm nay đã xong hoặc đã hỏng hẳn," Lão nói. "Dạy người ta mặc cả bằng thư thì ta chưa nghe bao giờ."

"Ông thì chỉ dạy người ta mặc cả bằng miệng, nên thư của ta chưa thấy ai cản," nàng đáp mà không ngẩng lên.

Ông thợ rèn đã rèn thanh kiếm cho Mặc tới sau đó, gói trong tấm vải dầu một thứ dài bằng cẳng tay, và đặt nó xuống bàn giữa chén nước của Lão và hũ đường. Vải mở ra, bên trong là một khớp khuỷu giáp lửa cũ, hai nửa ghép bằng một cái chốt đồng nhỏ, bề mặt trầy xước và rãnh bên trong đen vì khói.

"Mười thạch, ta bán đúng giá phế," ông nói. "Cùng lối ghép với bộ ta đã nhìn Lệ lò chủ mặc khi ông ta kiểm lò, ta nhìn cái chốt là biết."

Mặc cầm khớp lên, bẻ thử, và nó gập lại rồi duỗi ra theo một nhịp trơn lạ, mềm hơn mọi khớp sắt hắn từng nắm. Hắn nhớ nhát đâm ở sân giao giáp, mũi kiếm xuyên ba lớp mà tấm giáp ấy đặt yên trên giá, và hắn nhớ nó chưa từng chạm vào một chỗ đang mở. Hắn nhớ cả tấm giáp trong tay Bạch Dạ Ly, thứ không chặn mà lùi theo đúng đà hắn đẩy.

"Ông ta bảo mang kiếm tới để xét thuốc, mà ta chưa thấy ai xét thuốc bằng kiếm," Tần Hưởng nói, mắt nhìn qua cửa quán sang cổng sân lò. Ông chỉ vào con ngõ chạy giữa hai bệ lò xây sát nhau, bề ngang chỉ đủ một người đi nghiêng. "Ngõ ấy hẹp nên ai cũng nghĩ có thể nhốt được người ta ở trong. Nhưng phía sau bệ lò có đường vòng, ông ta thuộc đường, còn ta thì mới chỉ nhìn thấy nó từ đây."

Mặc đặt mười thạch lên bàn, và Lão Khúc nhìn chồng thạch ấy rất lâu trước khi mở miệng.

"Mười thạch mua một cái khuỷu giáp là tiền nuôi cả nhà một ngày rưỡi, cậu chắc là đáng chứ?" lão hỏi.

"Chưa chắc, nhưng còn ba ngày nữa tới hẹn, mà tôi chưa từng chạm vào một khớp đang mở," Mặc nói. "Không mua thì tôi chỉ biết đoán."

"Thế thì ta thôi hỏi, ta ghét hỏi mà nghe được câu trả lời đúng," lão nói, và lão đẩy chén nước đắng sang một bên để nhường chỗ cho chồng thạch.

Ngõ giữa hai bệ lò dài vừa bằng một thanh giáo, và bề ngang chỉ cho phép Mặc xoay người nửa vòng mà không chạm vách. Chiều ngày hôm ấy Tần Hưởng cầm một cán gậy dài hơn đầu người, đứng ở đầu ngõ và quét nó từ ngoài vào theo nhịp chậm, còn ông thợ rèn kẹp khớp khuỷu bằng một cặp cán sắt, giữ nó ở độ cao khuỷu tay người cao và bẻ cho nó mở ra rồi khép lại lệch nhịp với đường gậy.

Lượt đầu Mặc đỡ ngang. Hắn giơ kiếm chắn ngang đường gậy theo thói quen của người đứng trước mũi giáo, và gậy dài ép lưỡi kiếm sát vào vách ngõ, đầu kiếm kẹt giữa gạch và thân gậy. Sườn cũ của hắn kéo đau một đường dài từ nách xuống hông, nên hắn phải nhả lực, bỏ lượt, và để Tần Hưởng thu gậy về.

"Cậu đỡ như đỡ trước mặt người thường," ông thợ rèn nói. "Người mặc giáp lửa không ép cậu kiểu ấy, họ đẩy cậu vào chỗ hẹp rồi mới đánh."

Mặc rút kiếm khỏi vách, lau vết gạch ở sống kiếm, và đổi chỗ đứng. Hắn đặt chân trái trước nửa ngón, hạ cổ tay theo nửa đường cong còn lại của thức hai, không đỡ trực tiếp mà nhường chỗ cho đầu gậy đi qua trước ngực, ép hướng đuổi của nó hẹp lại để nó phải chạy theo một đường duy nhất. Rồi hắn nhìn khớp khuỷu đang mở trong cặp cán sắt, và mũi Châm đi vào.

Hai lượt đầu, hắn nhường được đường gậy nhưng mũi kiếm còn chếch ra ngoài, chỉ quệt vào mặt giáp một tiếng rít. Lượt ba, lượt bốn, hắn chỉnh mũi lọt khe mà vẫn trượt chốt đồng, vì khớp khép trước lúc kiếm tới. Thợ rèn tăng nhịp bẻ, Tần Hưởng đổi hướng gậy, và Mặc đổi chân, rồi hắn thấy cẳng tay phải bị vách ngõ cào một vệt rát, máu rịn ra thành một đường mỏng.

Sáng ngày kế, hắn đứng ở đầu ngõ nhìn sân thử giáp. Một người làm công của lò mặc bộ giáp lửa đã cũ, đốt rãnh bằng than thường như lúc thử hàng, và trong chừng một tuần hương ngắn người ấy ép liên tục vào chiếc cọc gỗ, mỗi bước mạnh hơn bước trước. Về cuối hơi thở y gãy ra từng đoạn, lửa trong rãnh hạ xuống, và người giữ sân lập tức bước vào dẹp cọc gỗ ra chỗ khác.

"Lệ lò chủ Kim Đan hậu kỳ, người làm công này thì chưa tới nửa phần của ông ta," ông thợ rèn nói khi hắn quay lại ngõ. "Còn một tuần hương thì ta chỉ biết đợt đốt lần ông ta kiểm giáp cũng tới đúng chừng ấy thôi, ta không dám hứa lần đánh thật sẽ đúng từng hơi."

Sáng ngày sáu trăm lẻ chín, Mặc đứng lại đầu ngõ và không còn đỡ nữa. Lượt thứ năm hắn vào sớm, lượt thứ sáu chờ đúng nhịp nhưng đứng xa, mũi kiếm đều dừng trên mặt giáp. Thợ rèn gõ cặp cán vào vách, chỉ chỗ hắn còn có thể lấn tới, ngay sát đường gậy đang quét ngang. Lượt thứ bảy, Tần Hưởng đổi gậy từ ngang sang xéo, Mặc lấn vào khoảng ấy và ghìm thân gậy sát vách. Khuỷu giáp vừa duỗi hết thì mũi Châm đã lọt khe, lần này không còn hụt quãng đường tới cái chốt đồng.

Tiếng kim loại bật ra khô gọn. Đầu cặp cán sắt sụp xuống, Tần Hưởng buông gậy lùi một bước để tránh mũi kiếm, và ông thợ rèn phải đỡ nửa cánh tay giáp bằng bàn tay còn lại, vì chốt đã đứt và khớp thôi không còn giữ gì. Lão Khúc ngồi trên ghế đẩu cạnh miệng ngõ, cách đường kiếm xa hơn chỗ lão ngồi lúc mới mang ghế tới. Hắn đã thấy lão kéo lùi ghế từ lượt thứ sáu, đúng lúc mũi kiếm vừa quệt chốt đồng bật một tiếng sắc.

Mặc đứng yên giữa ngõ, vai thở nhẹ, và hắn thấy rõ cái giá của lượt vừa rồi, vì để chạm được khe ấy hắn đã đứng sát khớp tới mức khuỷu giáp mà duỗi thêm một ngón nữa là đập vào mặt hắn. Ông thợ rèn nhìn nửa cánh tay giáp đang buông thõng trong tay mình rồi nhìn hắn, và Tần Hưởng nhặt cây gậy lên mà chưa dám đưa mắt khỏi mũi kiếm. Giọng ông thợ chậm.

"Khớp ấy mở là để tay ông ta đánh được. Cậu muốn chạm nó thì phải vào chỗ tay ấy đánh."

"Tôi biết," Mặc nói.

"Nhớ giữ khoảng ấy," ông đáp, rồi gõ ngón tay lên cạnh giáp, ngay chỗ vừa sượt qua mặt Mặc lúc hắn bước vào.

Tối ngày sáu trăm lẻ chín, Mặc ngồi ở lán sau sạp với cuốn sổ trên đầu gối, lật qua trang vẽ cổ tay Bạch Dạ Ly và vẽ thêm một đường mảnh bên cạnh. Đó là đường tấm giáp lùi theo mũi đâm, và hắn nối nó vào đường cổ tay đang xoay nửa vòng, cho tới khi trang giấy hiện ra như một sợi dây có hai đầu cùng nhận đà. Hắn nhìn sợi dây ấy lâu, rồi ghi dưới nó, bằng nét chữ nhỏ, rằng phải rút được đà mà vẫn giữ sức ở mũi.

"Lão thử giúp cậu cái này," Lão Khúc nói, và lão cầm cặp cán sắt mà ông thợ rèn để lại, kẹp nửa cánh tay giáp lên đầu cán, đưa nó thẳng ra trước người hắn. "Cậu đâm, ta nghiêng cán như cái người áo trắng kia, còn ta mà nghiêng sai thì cậu cứ nói thẳng."

Mặc đâm một nhát ngắn và rút sớm giữa đường, đúng nhịp dừng hắn đã tập mấy đêm. Cặp cán của Lão nghiêng đi tìm chuôi kiếm, không với tới, và chuôi vẫn nằm yên trong lòng bàn tay hắn. Lần thứ hai hắn đâm chắc hơn, và lần này đúng lúc hắn rút, cánh tay giáp không lùi theo mà trụ nguyên chỗ cũ, nên mũi kiếm đâm vào một vật không chịu nhường và mất hết lực, chưa xuyên nổi một lớp.

"Lần đầu được, lần sau lại hỏng," Lão nói, rồi cúi xuống nhìn mũi kiếm. "Chuôi giữ chắc đấy, còn mũi thì như sợi dây chùng, ta đem buộc hàng cũng phải kéo căng lại mới dám dùng."

"Rút đà thì giữ được chuôi, nhưng chuôi giữ được mà mũi mất sức thì cũng chẳng thắng được ai," Mặc nói. Hắn chưa có câu trả lời, và hắn không viết nó thành một chiêu, vì viết một chiêu chưa tập thì chỉ là tự khen mình.

"Ngươi vẽ ngón cái của người ta nhiều hơn vẽ mũi kiếm của chính mình," Thẩm Chiêu nói khẽ trong ngực, rồi cười một tiếng rất nhỏ. "Hết ngón cái thì ngươi định vẽ sang ngón trỏ à?"

Hắn không cãi, mở lọ sành Diệp cô nương đã đưa từ sáng, uống liều ổn đan thứ hai và giữ liều cuối lại trong lọ. Hòn đan dưới rốn nặng thêm một chút rồi yên, và hắn ngồi chờ vị đắng trôi hết tới cổ họng.

Ngoài miệng ngõ có tiếng chân đi chậm, và hắn ngẩng lên thấy Lệ lò chủ đứng trong bóng hai bệ lò, tay buông thõng, không cầm gì. Ông thợ rèn vừa vào lán lấy lại cặp cán từ tay Lão, và dừng bước khi thấy ông ta.

"Từ trưa mai, ai trong dãy còn giúp người này thì cửa sau lò hắn đóng," Lệ lò chủ nói, mắt vẫn nhìn nhà thợ rèn chứ không nhìn Mặc. "Ta nói để ngươi biết trước, đỡ phải than ta không báo."

Ông thợ rèn đứng yên một lúc, rồi đi thẳng tới chỗ Mặc, cầm cặp cán sắt chìa ra bằng cả hai tay trước mặt Lệ lò chủ. "Cậu cầm lấy, mai còn tập," ông nói.

Lệ lò chủ nhìn cặp cán, nhìn thanh kiếm thép đen dựng bên chân Mặc, và Mặc thấy ánh mắt ông ta dừng rất lâu ở thanh kiếm, rồi mới ngẩng lên nhìn vào cổ tay hắn. "Kiếm ngươi xuyên được giáp đặt yên trên giá," ông ta nói. "Giáp ta mặc thì đốt, mà tay sơ kỳ cầm thanh kiếm giỏi tới đâu cũng gãy trước khi mũi kiếm kịp tới chỗ nó muốn tới."

"Trưa mai tôi tới," Mặc nói.

Ông ta quay đi. Ông thợ rèn gỡ nửa cánh tay giáp mất chốt khỏi đầu cặp cán trong tay Mặc, và thử khép nó lại ngay trước mặt hắn. Cánh tay giáp gập xuống không một tiếng chốt, như chưa bao giờ có chốt, và từ đầu dãy lò tiếng người loan tin mở sân trưa mai đã chạy dọc theo ngõ tới tận lán.

Hết chương 32

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store