Ngày thứ chín trên đường về, ông thợ rèn vẫn ôm cái búa trên đùi chứ không để nó nằm chung với thép, và mỗi lần bánh xe xóc qua ổ gà ông lại siết cán búa thêm một nắm. "Búa của tôi thì tôi tự giữ," ông nói khi Lão đòi cất nó vào thùng đồ nghề cho khỏi cấn vào lưng người ngồi.
Mặc đi bộ cạnh bánh xe thứ nhất và không gánh một thanh thép nào, vì tờ giấy Diệp cô nương kẹp trong gùi hắn ghi bằng chữ ngay hàng rằng sườn trái của hắn vẫn nằm trong sổ của nàng. Thất đi sau xe cuối, một tay giữ sườn, và Tần Hưởng ghìm cương ngoái lại nhìn.
"Chặng này ổ gà nhiều, ai sườn nhức thì lên xe," Tần nói.
"Tôi đi được," Thất nói, và bước thêm hai bước thật dài để chứng tỏ điều đó.
"Ta không hỏi cậu đi được hay không, ta nói là lên xe," Tần nói, và Thất leo lên, không thêm lời nào, chỉ đặt bàn tay lên thành xe cho Tần biết lúc nào nên đi chậm.
Ở trạm cuối ranh, tờ niêm của Hứa lễ quan cấm bán đan Khải Phong vẫn dán chỗ cũ, và dưới nó là dòng chữ đóng dấu Tống Hoành Chu đã ngả màu mưa nắng.
"Hàng ngoài ranh, toàn sắt, không có một viên đan," Tần Hưởng nói trước khi người giữ trạm kịp hỏi.
"Niêm cấm đan chứ không cấm sắt," người giữ trạm đáp, "còn hạng tám mươi bảy thì cũng không được miễn tiền đường."
Chiều ngày sáu trăm tám mươi lăm, ba chiếc xe lên tới dốc cuối cùng và dừng trước cổng gỗ Vọng Tinh khi bóng núi đã phủ hết bậc thềm. Đỗ đứng giữa cổng, hai tay chắp sau lưng, và ông không hỏi một câu nào về trận ở Mạc Châu hay về cái ấn trên trán Mặc. Tin kết đan đã tới ông từ ngày sáu trăm lẻ năm, và tin ba người mới đã tới từ ngày sáu trăm hai mươi ba.
"Hôm cậu đi, tôi bảo tôi đếm tới khi cậu cho tôi con số khác," Đỗ nói.
"Hôm nay là ngày sáu trăm tám mươi lăm," Mặc nói.
"Tôi ghi rồi," Đỗ nói, và ông đi dọc đoàn xe, đặt tay lên khối thép đầu tiên, nhìn ba người lạ ngồi cạnh sáu cái bọc, rồi chỉ nói với một người. "Ông là người giữ búa, chỗ ông ngủ tôi làm xong rồi, còn mái thì mới có một nửa."
"Tôi ngủ dưới nửa mái cũng được, miễn nửa còn lại che cái lò," ông thợ rèn đáp.
Nguỵ Tranh đứng ở bậc thấp, gậy chống xuống đất, rồi đi một vòng quanh chiếc xe thứ hai và gõ đầu gậy vào bánh để nghe tiếng. "Trục lỏng," ông nói với không ai, đầu gậy còn gõ vào nan bánh thêm một lần nữa.
"Tần Hưởng đã xem rồi," Mặc nói.
"Tần xem bằng mắt, tôi xem bằng gậy," Nguỵ nói. Ông ngồi xổm quệt ngón tay lên dấu hai nét chéo ở đầu một thanh thép, rồi đứng dậy và nói tiếp bằng giọng cộc như mọi khi, "thép tốt, gỗ nhà ta chưa tốt bằng nó."
Ôn đại nương đi xuống từ bậc thứ ba, không nói gì với ai, tới thẳng chỗ Thất đang bước xuống khỏi xe. Bà nắm lấy bàn tay Thất như cân một bó rễ, buông ra sau một nhịp rồi nắm lại lần nữa.
"Ấm," bà nói.
"Dạ," Thất nói, và đứng yên để bà nắm.
"Nhà ngươi đông hơn ta nhớ, mà ồn hơn nữa," Thẩm Chiêu nói trong ngực.
Lau ló ra từ sau cánh cổng với cuốn sổ trứng kẹp dưới nách, nhìn ba người lạ rồi nhìn Mặc, và hỏi to cho cả sân nghe. "Cân lá bây giờ bao nhiêu một cân ạ? Thư chị Diệp dặn phải hỏi cả cân trước rồi mới xin thêm một nhúm!"
"Chị Diệp ở lại quầy rồi, em hỏi ta thì ta tính tiền cái hỏi ấy," Lão nói, tay ôm bọc khế hàng trèo xuống xe. Hoài Quang đứng sau em, rút tờ thư đã sờn nếp gấp từ tay áo, nhìn một lúc rồi cất vào cổ áo. Cô nhìn ra sau xe một lần nữa, nhưng Diệp cô nương vẫn không có trong những người đang dỡ bọc.
Người kéo bễ và người đàn bà lọc dược chưa kịp cởi bọc đã hỏi Đỗ chuyện cái án. Đỗ dẫn họ vào chính điện, và trên án, giữa ba trăm bấc nguội xếp hàng, ông đã lau sẵn hai chỗ trống từ ngày nhận tin, cách nhau đúng một gang tay.
"Đặt chỗ nào cũng được ạ, hay phải theo thứ tự gì?" người kéo bễ hỏi.
"Chỗ nào trống thì chỗ ấy, thứ tự thì nhà này chưa có," Đỗ nói.
Người kéo bễ đặt ngọn đèn của mình xuống bằng hai bàn tay còn đen vết than. Người đàn bà đặt ngọn của bà xuống chỗ bên cạnh rồi lùi nửa bước nhìn nó, và ở ngưỡng cửa Lau nói khẽ rằng bây giờ trên án có hai mươi lăm ngọn. Ông thợ rèn đứng ngoài ngưỡng, bàn tay vẫn đặt lên chỗ túi áo có ngọn đèn của ông.
"Tôi xem đã," ông nói, và Đỗ gật đầu như vừa nghe một câu rất đúng.
Nền Luyện Khí Đường nằm ở chân dốc thấp phía đông, nơi ngói và xà đã được dọn đi từ hôm tin tới, còn lại một khoảng đất đen vệt than của đêm truy thu mà Đỗ không cho ai chùi. Dọc mép nền có một rãnh thoát nước lót cuội, và bốn cột lim nằm cạnh một khung mái đã ráp sẵn dưới đất, chờ kéo lên.
Đỗ đi từ cột này sang cột khác, thò ngón cái vào từng mộng. Hai chỗ ông gật, một chỗ ông lắc đầu. "Cong, bỏ," ông nói, và tự tay gạt thanh gỗ ấy ra khỏi đống, mặt mộng còn trắng những vết vừa đẽo.
"Nền đào sâu bao nhiêu?" Nguỵ hỏi.
"Hai gang, đủ cho nhà nhưng chưa chắc đủ cho lò," Đỗ đáp.
Lão đặt bọc giấy xuống phiến đá ở mép nền, mở hai tờ khế nhận ở Mạc Châu cho ông thợ rèn xem. "Giao hàng ngoài ranh cấm, kỳ đầu ngày bảy trăm, còn đủ thì giờ cho ông chê nền nhà ta vài lượt," lão nói. "Thép đã hứa giao ta buộc dây đỏ để riêng, ông lấy phần không buộc mà dựng bệ, kẻo mai ta phải đền."
"Ông thợ ở lại thì ta tính giường theo tháng," Lão nói, "còn cái búa ở lại xin đừng tính thêm một suất cơm."
"Búa ăn than, không ăn cơm," ông thợ rèn đáp, và đó là lần đầu Mặc thấy ông cười, chỉ một bên mép.
Ông nhóm than đá ngoài sân từ một bao đã theo ông mười bốn ngày đường, còn Đỗ cùng người nhà đắp bệ lò bằng đất trộn rơm và gạch non, cao ngang hông, ba mặt chờ đai thép. Khi hai chiếc đai đầu sáng màu cam trong than, ông thợ gọi Mặc.
"Cậu giữ kìm dài cho ta," ông nói. "Đai phải ôm một lần cho khít, nó nguội là nó co, đặt lệch thì ta đập lại cũng chỉ làm hỏng bệ."
Cái kìm dài sáu thước, đầu kìm cặp chiếc đai đỏ nặng hơn cả thân nó, và hắn nhớ cổ tay phải của mình từng làm đầu kìm vẽ vòng hồi đầu tháng. Hắn gắp đai khỏi than, giữ nó thẳng trên bệ trong lúc ông thợ đóng lượt búa đầu rồi lượt thứ hai ở phía đối diện. Đầu kìm đứng yên giữa hai lượt, và chiếc đai nằm đúng vòng bệ.
"Hai lượt không lệch," ông thợ nói, thấp giọng như nói với cái búa. "Lúc ở Mạc Châu cậu cầm kìm này, đầu nó còn gõ vào đe. Ta nói để cậu biết là ta thấy."
Nguỵ Tranh đứng khoanh tay ở mép nền, nhìn cổ tay phải của Mặc một lúc rồi nhìn đi chỗ khác.
Mặc buông kìm, tay phải run lại một chút đúng lúc không còn cần nó nữa, và hắn ngồi xuống bậc đá cạnh rãnh thoát nước chờ sườn trái thôi nhói. Không ai bảo hắn làm thêm việc gì.
Đai thứ ba vừa ôm vào bệ thì Nguỵ cầm một sợi dây gai bước tới. "Để tôi giật thử," ông nói.
"Nền chưa khô đâu," Đỗ nói.
"Cái gì cũng phải bị giật trước khi nó phải chịu thật," Nguỵ nói, rồi quấn dây quanh thân bệ và ngả người kéo bằng cả sức. Bệ không nhúc nhích, nhưng nền dưới chân phía bễ kêu lên một tiếng khô rồi vỡ thành một vệt chạy ngang, và cái đai tụt xuống một ngón, nghiêng đi như vòng trượt khỏi cổ tay. "Nền vỡ rồi," Nguỵ nói, và không ai cãi ông. Người nhà dỡ đai ra để đóng chốt lại chân bệ, và khi dỡ, cái đai vốn đã cong vì nóng kêu lên một tiếng rồi gãy làm hai ở chỗ nối.
"Mất một cái," ông thợ rèn nói, nhặt hai mảnh lên nhìn mặt gãy mà không chửi. "Thép thì rèn lại được, cái hỏng là cái nền, chứ không phải cái tay giữ kìm."
Nguỵ cùng Đỗ moi bỏ lớp đất lún phía bễ, nện đá dăm xuống tận đá cứng rồi kê lại chân bệ bằng phiến đá. Khi thử kéo không còn lún, họ mới kéo khung mái lên bằng sáu sợi dây và gần bốn mươi bàn tay, Lau giữ đầu dây nhỏ nhất. Gian có mái ván chồng, nền thoát nước ra rãnh và một bệ lò ôm hai đai thép chờ cái thứ ba.
Cuối đêm, người kéo bễ nhận cần bễ cũ của mình, cái cần gỗ đen bóng mồ hôi đã theo ông từ Mạc Châu, và tra nó vào hộp bễ bằng gỗ thông Đỗ đóng theo hình người thợ vẽ bằng nhánh củi trên đất.
"Vừa," người kéo bễ nói, và ông thử kéo hai lần, mắt nhìn chỗ cần khớp vào hộp. "Ba chỗ rồi tôi chưa gặp cái hộp nào khít thế."
"Anh vẽ hình, tôi chỉ đẽo theo," Đỗ nói.
Nguỵ đang kéo bễ thử cho nền ấm bèn buông cần, bước sang bên, nhường chỗ mà không nói một lời. Người đàn bà lọc dược đặt chum nước tôi cạnh bệ và phủ vải lọc lên miệng.
Than hồng lên dần. Bễ thổi nhịp chậm rồi đều, lửa chuyển từ cam sang đỏ thẫm rồi đỏ rực, và hơi nóng làm ngọn đèn dầu nghiêng hẳn về phía vách. Ông thợ rèn thò một thanh thép vào, đợi, kéo ra một chiếc đai còn đỏ và đóng bốn nhát trên đe cũ. "Nhúng liền, để nguội ngoài gió thì nó giòn," ông nói với người đàn bà lọc dược, và bà nhúng chiếc đai vào chum nước tôi, hơi trắng bốc lên tới xà.
Lau chạy ra tới ngưỡng gian rồi quay phắt về phía hiên, hét to hơn tiếng bễ. "Ra xem đi, lò đỏ rồi, nó đỏ y hệt lòng đỏ trứng mới đẻ!"
Cả hiên kéo vào, Ôn đại nương đi cuối cùng, và gian chật tới mức Mặc phải lùi sát vào cột. Đỗ vừa cầm chiếc đai còn bốc khói để ướm vào bệ thì chân giá bễ tựa cạnh bệ lò lay một chút theo nhịp thổi, nhẹ tới mức chỉ người nhìn đúng chỗ ấy mới thấy.
"Đá kê bệ đã chắc, còn chân giá bễ hở một khe," Đỗ nói, rồi nhét miếng gỗ vụn vào kê tạm. Nó vẫn lay, nhỏ hơn, mỗi lần bễ đẩy hơi.
Người đục gỗ đã ngồi ở chiếc bàn thấp sát vách tây từ lúc lò nhóm, bàn tay phải nằm trong vòng vải cài cán vồ, bàn tay trái đặt trên đầu gối. Mặc thấy mắt anh ta đi theo miếng gỗ kê tạm dưới chân giá bễ, ở phía ngoài vách gạch chắn than. Anh ta đứng dậy, bê một khúc lim ngắn từ đống gỗ phế sang đặt lên bàn, rồi cầm cái đục lên bằng tay trái.
Anh ta kê mũi đục lên mặt gỗ và để nó ở đó rất lâu, lâu tới mức Đỗ định bước tới rồi dừng lại. Cái vồ trong vòng vải đi xuống nhát đầu và lệch. Mũi đục trượt khỏi mặt gỗ, cào một vệt trắng dài, và tiếng gỗ kêu chói trong gian im.
Anh ta đặt vồ xuống, nhìn vệt cào ấy, rồi kẹp khúc lim giữa hai đầu gối thay vì để trên bàn, để mũi đục luôn nằm đúng trên đường rơi của cái vồ. Nhát thứ hai trúng, rồi nhát thứ ba. Anh ta đục từng nhát nhỏ, mỗi nhát lấy đi một lát lim mỏng bằng móng tay, rồi dừng lại để thở, để nhìn, để vặn khúc gỗ bằng đầu gối, cho tới khi cái bóng của anh ta trên vách đã dịch hết nửa bức tường.
Cái nêm dài bằng bàn tay, một đầu mỏng như lưỡi dao. Mặt nó không phẳng bằng những cái nêm Đỗ gọt, nhưng các cạnh thì thẳng, và nó nằm trong lòng bàn tay trái của người đục gỗ mà không rung.
Đỗ bước tới cầm lấy, ướm thử vào khe giữa chân giá bễ và phiến đá kê, và hỏi mà không ngẩng lên, bằng giọng ông vẫn dùng để dặn người mới đứng đâu. "Cái thứ hai anh làm được không?"
"Lắp cái này trước," người đục gỗ nói.
Đỗ rút miếng gỗ kê tạm ra, đặt nêm vào khe và gõ ba cái bằng cái búa nhỏ Nguỵ đưa tới mà không cần ai bảo. Rồi ông đứng dậy, và Nguỵ quấn dây quanh thân bệ lẫn giá bễ tựa cạnh, ngả người kéo thử cả hai. Bệ không nhúc nhích, chân giá bễ cũng hết lay theo nhịp thổi, nên Nguỵ kéo thêm một lần nữa, rồi thả dây rơi xuống nền và không thử lần thứ ba.
Người đục gỗ đặt cái đục xuống bên chân trái. Bàn tay phải trong vòng vải vẫn co cứng, ngón nào cũng cuộn lại thành cái rễ khô, và Mặc nhìn nó mà biết rằng không tầng cảnh giới nào hắn vừa bước lên lại làm nó duỗi ra được.
"Ngồi xuống đi," Ôn đại nương nói, và bà dùng mũi chân đẩy một chiếc ghế từ góc gian tới sau lưng anh ta, đúng lúc anh ta còn chưa tìm xong chỗ ngồi. Anh ta ngồi xuống đó thở, vai phập phồng, mắt vẫn nhìn cái nêm đã nằm dưới chân giá bễ.
Không ai nói lời khen nào, mà ông thợ rèn đặt chiếc đai mới lên bệ cho nguội, và người kéo bễ nghiêng cần nhẹ hơn để hơi lửa không lùa vào phía người ngồi.
Gần canh tư, khi người nhà đã lục tục ra khỏi gian, Ôn đại nương kéo tay áo Mặc ở ngưỡng cửa.
"Lò đỏ thì tôi mừng, cả nhà cũng mừng," bà nói rất nhỏ, mắt vẫn nhìn người đục gỗ đang ngồi. "Nhưng cậu ghé gian giữ thân một lát, hạt kê tôi giữ ở núi từ trước vẫn còn nguyên trên đĩa sắt. Hạt nếp cậu mang đi đã dùng cho Thất rồi, mà chân người nằm sát cửa sổ lại lạnh từ chiều, sớm hơn tôi tính nhiều."

