Mặc phải trả chiếc bễ lại cho người giữ dược vào buổi sáng đầu tiên định nhóm lò, bởi tiếng gió qua miệng đồng vẫn làm hắn đau sâu giữa trán.
Người ấy nhận bễ, không hỏi hắn còn muốn cố hay không, tự mang cả giỏ thuốc sang thuyền bên. Dưới mui chỉ còn chỗ ngồi dẫn khí và một khoảng trống từng đặt lò, qua đó Mặc trông thấy người dẫn lặn đang lựa rễ cùng bạn, những thứ hắn đã nhận luyện vẫn phải chờ.
Qua một tuần, cơn ho đã dứt nhưng chữ nhỏ còn chồng lên nhau, Mặc khép kiếm kinh, tiếp tục dưỡng thần thức. Tới hôm lựa hết một giỏ rễ mà không phải dừng, hắn mới được nhận lại chiếc bễ, tiếng gió qua miệng lò lần này không làm đầu giật đau.
"Đừng đem chuyện ngày nước thấp vào lúc canh hỏa," ông nói. "Thuốc chẳng biết cậu đang vội cứu ai."
Mặc nhận lời, bắt đầu từ phần đan thường còn phải luyện, bếp sáng trở lại giữa những thuyền đã dời xa cửa bia. Gió ở chỗ mới mạnh, dược phơi chưa khô đã phải đem vào, Lão Khúc đứng giữ mui suốt một buổi, tới chiều mới chịu buông xuống.
"Chỗ neo ông tính rẻ, công phơi lại đắt," lão bảo người giữ dược. "Lần sau lão phu đòi cả tiền ngồi nhìn trời, đừng bảo không có trong khế."
"Ông ngồi được thì cứ ngồi, đừng giẫm lên thuốc."
Lão cúi xuống mới biết gót mình chặn mép nia, bèn bước hẳn lên mui, tuyên bố từ trên này nhìn được nhiều trời hơn, giá cũng phải khác.
Mặc nghe hai người cãi, hỏa dưới lò vẫn đều. Quãng dưỡng kéo dài đủ lâu để tiếng ngoài bếp trở lại đúng chỗ của nó, không còn chen vào đường khí đang dẫn, hắn mới mở gói dược cuối dành cho Hoá Thần.
Mảnh ngọc đáy biển vừa rời nước đã tỏa sương xanh quanh những rễ trắng giữ từ lúc nhận công, hắn dùng linh lực bọc ngọc, đưa cùng dược dịch vào lò, lần này không đặt bản chép hoa văn ở bên cạnh.
Người dẫn lặn chờ dưới mui từ đầu buổi, ngón tay vạch tên từng vị lên lớp muối đọng trên ván. Tới chữ chỉ cách dẫn hỏa anh bỏ trống, đợi Mặc thu bớt lửa mới ghé gần.
"Viên trước làm cậu suýt chết, viên này có đổi vị nào không?"
"Thuốc trước không sai, tôi dẫn thần thức sai đường."
"Vậy cậu biết đường khác rồi?"
"Tôi biết chỗ mình đã ép nó đứt, phần còn lại phải tự làm."
Anh ngồi lùi về phía cửa, chẳng có vẻ yên lòng hơn, Mặc cũng không nói thêm. Hai mắt hắn giữ trên màu dược đang chuyển, để khối thuốc tự co hết phần hơi cuối mới dẫn nó khỏi lòng đồng.
Ngày một nghìn năm trăm ba mươi bảy, viên Hoá Thần Đan thứ hai được đặt vào một hộp khô. Người dẫn lặn đợi hắn đóng nắp rồi mới hỏi gói còn ở đâu, Mặc chỉ lớp giấy đã mở hết, trên đó chỉ còn bụi rễ.
Anh nhặt tờ giấy lên, vo lại rồi ném vào bếp đã tắt, giọng vẫn bực như hôm đứng ở cửa bia.
"Lần sau tôi đứng gần hơn. Cậu đừng hẹn tôi ở tận cửa."
Ba ngày sau, người giữ dược mở hòm lửa trước mặt Lão Khúc, nhận hộp đan Mặc đã niêm từ những tháng làm nghề. Ông lấy một viên đưa cho người vừa trở về sau chuyến hái dược, chờ người ấy dùng xong mới đẩy hòm sang, không còn giữ lại phần nào dưới đáy.
Hai mươi tám viên đổi hết bảy hạt cuối trong hòm, sáng hôm sau phần lửa ấy theo đường hàng lên núi.
Mặc đứng ở bờ đến khi người mang ống qua khỏi lối đá. Lần này Lão không phải nhắc hắn quay về bếp, bởi từ thuyền cư trú đang vang lên tiếng người đàn ông gọi mẹ, mỗi tiếng lại cách xa tiếng trước hơn.
Bà lão ngồi giữa đống lưới vừa tháo khỏi mui, chiếc kéo mở sẵn trên đầu gối. Con bà đang quỳ trước mặt, nói chậm tên từng người đã từng ở chung thuyền, mong tìm một cái tên đủ kéo bà về câu chuyện anh vừa kể.
Bà nghe được nửa chừng thì bực, đẩy phần lưới chưa tháo về phía người con.
"Anh hỏi ta nhiều người quá. Người vừa gọi ngoài kia là ai?"
"Là con, con gọi mẹ từ đầu thuyền vào đây."
Bà nhìn ra mũi rồi lại nhìn anh, vẻ ngờ vực khiến anh phải ngừng nói. Mặc vừa bước tới mạn, người con đã gạt đống lưới sang, chừa chỗ ngay cạnh mẹ.
"Mẹ còn nhớ tên mẹ không?"
Bà đặt kéo xuống, vệt đăng ấn xám trên trán hiện rõ khi bà ngẩng mặt, dưới nắng không khác một chỗ da đã mất màu từ lâu.
"Người ta gọi thế nào thì ta nghe thế ấy."
"Tạ Tố Lan," anh nói, từng chữ đều rõ. "Cha gọi mẹ là Tố Lan, từ hồi còn chiếc thuyền cũ, mẹ không cho con gọi theo."
Bà quay về phía mui, tránh chỗ lưới chắn cửa cho người mang cái tên ấy bước ra. Đợi mãi không thấy ai, bà mới hỏi người con đang quỳ có cần đi tìm người ấy không.
Anh cúi gập xuống, trán gần chạm đống lưới, tiếng bật ra như bị kéo rách.
"Mẹ nhìn con đi, người ấy là mẹ."
Bà giật mình vì tiếng anh bỗng lớn, cây kéo rơi xuống ván. Mặc nhặt lên đặt xa chỗ ngồi, không chen một câu nào vào giữa hai người. Ngoài mạn có người kéo thuyền tới xem rồi dừng chèo.
Tạ bà bà cúi nhìn mặt nước, bóng bà ở đó bị lưới che thành từng ô, lúc quay trái thì người dưới nước cũng quay trái. Nhưng bà vẫn đưa ngón trỏ tới sát gò má mình, thử chạm một chỗ nhăn mà có lẽ từng quen.
"Ta không nhớ cái tên ấy," bà nói với Mặc. "Đến nó gọi, ta cũng còn đợi người khác trả lời."
Người con ngẩng lên, định nói ngày mai thử lại, bà đã bảo anh đừng gọi nữa, hôm nay bà nghe đủ rồi.
"Cái đèn vẫn còn chỗ sứt phải không?"
"Còn cả hai vết kim bà khía cạnh quai, tôi nhớ chỗ ấy."
"Đưa ta xuống, lần này ta mang nó lên."
Tiếng chèo ngoài mạn dừng hẳn, người đàn ông trên thuyền sát bên bước qua ván nối, mái tóc hoa râm che một vệt ấn cũng nhạt gần hết, sau lưng ông là đứa trẻ từng được gửi cho con bà giữ.
"Bà mang lên thì thuyền chúng tôi đi đâu? Lần trước bà đã thấy cả bãi ở dưới rồi."
Người con đứng phắt dậy làm đống lưới trượt khỏi đầu gối, lời nén từ lúc nghe mẹ hỏi tên người khác bỗng bật ra.
"Cha tôi chết bà còn nhớ, tới khi mẹ tôi quên chính mình, ông bảo đợi thêm bao lâu?"
"Ta hỏi thuyền ta đi đâu!" người kia quát lại. "Con ngươi lớn rồi, con ta còn đang ở sau lưng đây, ta hỏi có sai không?"
Đứa nhỏ níu vào cột mui, không bước sang, người dẫn lặn từ thuyền dược tới, nghe tiếng cãi đã muốn chen vào, cô gái đi sau giữ anh lại, nhường chỗ cho Mặc đứng giữa hai mạn.
Mặc nhìn đứa nhỏ sau cột, nói mình chưa có cách che cả bãi nếu truy thu tìm tới.
"Vậy cậu còn mở?"
"Nhà ông muốn dời thì đưa thuyền đi trước, tôi giữ đường ngoài."
"Dời hết thì ai kiếm dược? Ăn cát à?"
Cô gái bước sang, kéo một giỏ rễ khỏi lối đi rồi mới đáp.
"Mẹ tôi ở lại bãi cạn. Tôi vẫn về chở dược, đường ngoài chúng ta đi được, đâu phải mất cái neo này là mất cả biển. Nhưng ông muốn đi thì nói chỗ ông chịu đến, đừng đợi người ta đoán."
Người cha nhìn cô một lúc, giọng hạ xuống nhưng chưa chịu nhận lời. Ông muốn đưa đứa nhỏ tới thuyền người thân ở ngoài bến, còn đèn của mình vẫn để dưới, chừng nào chưa tận mắt xem đường thì chưa dời.
"Được," Mặc nói, "tôi đưa ông xem trước lượt nước tới."
"Tôi muốn tự nhìn dưới đáy nữa," người cha nói thêm, "đừng bảo trên mặt thuyền đi được là dưới đó đèn tôi cũng yên. Cậu ra tay với bãi chủ, ngọn của tôi còn ở trong màn của ông ấy."
"Tôi đưa ông tới xem, nhưng phải lên trước lúc đánh."
Người ấy gọi đứa nhỏ lại, bảo nó đem chăn về thuyền mình. Tới lúc đứa trẻ bắt đầu cuộn chăn, ông mới nhận cây sào người con đưa sang.
Tạ bà bà bỗng gọi người con tới đầu mui, tìm đoạn dây neo có mối buộc chồng, ngồi xuống kéo nó ra khỏi đống lưới, bàn tay còn nhớ cách mở dù không biết ai đã dạy mình.
"Đầu này của ta, ta buộc hồi thuyền họ ghé sang," bà nói, "con tháo phía ngoài đi, đừng giữ thuyền họ dính với thuyền ta nữa."
Anh còn do dự, bà đã gỡ được vòng đầu, đưa phần dây chùng qua, khiến tấm ván nối hai mạn nghiêng xuống, người cha phải tự nhấc nó về thuyền mình. Đứa trẻ chạy tới giúp ông, hai chiếc thuyền chậm rãi rời nhau.
Chiều ấy, từng nhà tới nói riêng điều mình muốn, có người xin xuống cùng bà, có người giữ ngọn ở dưới, có người chỉ đem chăn cùng trẻ nhỏ rời chỗ neo trước. Người con nhận trả những đứa trẻ đã được gửi, tới nhà cuối cùng thì bị mẹ chúng mắng vì chẳng báo sớm để bà thu buồm.
Anh đứng nghe rồi cùng bà thu nốt tấm buồm quá nặng, lúc trở về, mẹ anh đã tự xếp lưới khỏi lối, chừa chỗ cho chiếc đèn chưa được mang lên.
Đêm ấy, Mặc ngồi ở mũi thuyền nghe những chiếc neo được nhấc khỏi bãi cũ. Hộp đan còn đóng dưới mui, hắn đặt tay lên chuôi kiếm tới khi tiếng chèo cuối cùng đã xa.
Chiều trước lượt triều sâu, Mặc theo ba người trẻ tới nhận chuyến dược cuối. Cô gái vừa đưa người hái dược lên thuyền đã quay nhìn xuống, những đốm sáng quen dưới mái đá đang rời khỏi chỗ cũ.
Một dải nước xanh nâng cả hàng đèn khỏi cát, đưa những chụp đồng men theo mặt dốc. Các mảnh sành kê chân rơi lại phía sau, khoảng cách giữa từng ngọn thu dần, rồi hàng ngoài lẫn vào hàng trong khi bãi chủ kéo tất cả xuống lòng cát tối.
Người dẫn lặn chỉ một ngọn có quai nghiêng, chưa kịp gọi Mặc thì nó đã khuất sau hai chụp lớn.
"Đèn bà ở hàng ấy! Ông đưa đi đâu?"
Bãi chủ đứng giữa dốc, đăng ấn Hoá Thần rực lạnh, một tay giữ màn, tay kia đẩy những ngọn cuối rời cát. Ông ta tách một khe nước cho tiếng vọng lên.
"Xuống chỗ kín hơn. Muốn tìm thì tới hỏi ta."
Mặc xuống nước, men theo phía ngoài hàng đèn. Lớp cát trống vừa lộ ở chỗ bà từng quỳ, hai vết đầu gối đã mất, còn chiếc quai sứt vừa hiện sau một chụp đồng lại bị màn xanh nuốt khuất.
Hắn rút kiếm, chém ngang phần màn phía trước dải đèn. Mũi kiếm rạch được một đường trắng, cả hàng chậm lại, nhưng những chụp gần chỗ rách lập tức nghiêng về luồng triều ngoài. Một ngọn tuột chân khỏi dải nước, quai va vào chiếc bên cạnh, tiếng đồng dội tới tận thềm.
Mặc xoay sống kiếm đỡ nó trở vào, bàn tay bãi chủ vẫn đẩy xuống, cả hàng nặng dồn lên lưỡi thép. Hắn ghìm được một hơi rồi bị kéo trượt theo dốc, đường rách mở rộng thêm ngay cạnh những chân đèn đang chực đổ.
Phía sau lưng ông ta, màn nước đã mỏng. Chỉ cần chém tiếp, hắn có thể phá nốt khoảng ấy, nhưng hai dòng ngoài dốc đang kéo những tua rong trên quai về hai phía khác nhau.
Mặc thu kiếm, bơi chếch sang bên hàng đèn thay vì đuổi sát bãi chủ. Người dẫn lặn đã xuống theo, thấy hắn chỉ về lòng cát lõm liền hiểu, quay lại tìm cô gái ở mép dốc.
Cô men theo vách, dừng ở một mảng san hô gãy rồi rút dao rạch dấu vào đá. Mặc nhìn tới khi hàng đèn chạm đáy mới đưa tay báo, cô khía thêm một vệt thấp hơn, đo hướng từ đó về cửa phụ bằng sống dao.
Bãi chủ ép màn khép lại. Ánh đèn mất sau lớp xanh sẫm, nhưng vết dao ở ngoài màn còn trắng, nằm đúng phía lối vòng qua hai dòng triều.
Lúc trở lên, cô gái không nhận tay kéo, tự trèo qua mạn, ném con dao mẻ xuống cạnh gùi.
"Ông ấy trộn cả hàng rồi. Bà phải tìm lại từng chiếc."
"Còn xuống được chứ?" người giữ thuyền hỏi, môi chụm như sắp huýt sáo mà không ra tiếng.
Cô chỉ về vết dao dưới mặt nước, rồi lấy chính con dao ấy vạch lên sàn đường vòng mình vừa bơi. Người dẫn lặn ngồi xuống cạnh cô, đặt ngón tay ở chỗ thềm, người giữ thuyền dịch mũi chèo về cửa phụ.
Mặc đứng nhìn đường mới. Chỗ gần hàng đèn nhất nằm dưới hai dòng triều, không còn bậc cạn cho bà đứng đợi, ngày mai hắn phải đẩy bãi chủ rời khỏi đó trước khi đưa người xuống.
Tạ bà bà ngồi trên thuyền nhà chờ họ trở về, chiếc đèn chưa lấy có một khoảng trống sẵn dưới mui. Ngoài bãi, chỗ cát bà từng quỳ đã tối, còn ánh đèn nằm sâu dưới hai dòng triều.

