Người coi quán đặt chân lên thanh ngang chiếc ghế, thử sức một lần rồi lập tức ngồi phịch xuống đất, cái ghế vẫn nguyên mà đầu gối ông đã chịu thua.
Mặc tới cửa, ông giơ chiếc dùi ngăn hắn lại. Đốm đăng ấn giữa trán mờ đến mức nắng xiên qua mái làm nó mất hẳn, chỉ khi ông cúi xuống, Mặc mới thấy chút đỏ nằm dưới những nếp nhăn.
"Cậu giẫm giúp bên kia, đỡ ta dậy rồi ghế lại chưa sửa xong, lát nữa vẫn phải ngồi xuống."
Hắn đặt hành lý bên cửa, giữ đầu ghế đối diện cho ông đóng lại chiếc chốt, tiếng dùi gõ vang giữa gian quán vắng, bên ngoài đường có một bà lão kéo mẹt thuốc tránh nắng. Thấy khách đứng chờ, bà gọi Tống Hoài An bỏ cái ghế mục đi, khách trẻ còn ngồi đất được.
"Bà ngồi đất thì tự đứng lên lấy, đừng gọi ta," ông đáp, rồi bảo Mặc thử ghế.
Mặc ngồi xuống, ghế không kêu nữa, Tống lão chống lên đùi đứng dậy, phủi bụi rồi lấy nước cho khách, bước chân vẫn lệch về phía trái nhưng không cần vịn bàn.
Hắn tới Lão Đăng Trấn vào chiều ngày thứ tư kể từ lúc rời bến, qua cửa trấn, hắn đã thấy người ta phơi những chụp đèn đồng cùng lưới cá, có cái thủng cả đáy vẫn được đánh sạch để úp cây non. Không ai quay chụp lại giấu vết thủng khi khách đi qua.
Trên quầy có ngọn mệnh đăng của Tống lão, bấc thấp, lửa không cao hơn móng út, ông đem bình nước tránh sang phía khác cho khỏi che nó.
"Cậu từ biển lên, tìm chỗ ngủ hay tìm người?"
Mặc đặt bản vẽ mặt ấn xuống bàn, vẫn gấp phần hoa văn vào trong, dấu hàng Thanh Vân lộ ra, Tống lão nhìn một cái rồi hất cằm về gian cuối.
"Người ấy trả tiền ở tới hết tháng. Hỏi gì thì sang hỏi, đừng lấy cái ghế vừa sửa đi, bên ấy còn ghế."
Người mua bản chép đang mài mực, thấy Mặc tới, gã không nhìn kiếm trước mà nhìn chiếc khăn trên trán hắn, sau đó mới đẩy nghiên sang một bên, nhường mặt bàn.
Đăng ấn đèn dầu trên trán gã sáng đều, khác hẳn những đốm nhỏ ngoài đường, bên cạnh nghiên có ba bản vẽ, mái đèn khác nhau nhưng phần nét ở giữa gần như một.
"Cậu mang bản nào?"
Mặc trải tờ giấy nhận ở bến, gã nghiêng nó về phía sáng, dùng bản đang giữ đối lên, đến nét thứ ba thì bật một tiếng hài lòng.
"Đúng chỗ này, ta mua nét thật, không mua lời người uống rượu kể lại. Người vẽ có gặp người ấy trước khi lên Hoá Thần không?"
"Ông mua để làm gì?"
Gã dựng bút giữa hai ngón, đầu bút còn khô.
"Để khỏi nhận lầm người lúc gặp. Nếu cậu dẫn người ấy tới, giá khác. Chỉ cần bỏ khăn trong một khắc, không hỏi công pháp."
"Người nhờ ông có mặt ở trấn không?"
"Cậu dẫn được người thì ta mới biết phải mời ai ra."
Mặc nhận lại giấy, gã không ngăn, chỉ dời nghiên ra xa hơn, để cả khoảng bàn trống trước mặt hắn.
"Cậu đã tới đây thì chắc biết một nét trên trán có thể đổi được khá nhiều thuốc."
"Tôi cũng biết người mua thuốc không cần xem trán người luyện."
Gã cười, chấm bút vào nghiên nhưng chưa viết. Mặc đi ra, qua cửa vẫn cảm thấy ánh mắt ấy theo tới nút khăn sau gáy.
Tống lão đang gỡ chiếc lưỡi câu mắc trong vạt quần, nghe Mặc hỏi thợ vá thuyền, đóng mui cho người ở cùng đèn thì chỉ ra ngõ cạnh giếng.
"Cứ theo tiếng bào mà tìm. Nếu chỉ trét khe thì ta làm được, cậu hỏi rõ chỗ dột trước đã."
Sáng hôm sau, Mặc tìm được sân thợ, một ông già đang bào tấm ván cong, mắt nheo sát mặt gỗ, chẳng buồn ngẩng lên khi hắn chào. Mặc đứng đợi tới hết đường bào, ông mới hỏi thuyền nằm đâu, nước ăn vào gỗ tới mức nào.
Nghe nói phải đi ra biển, ông thợ chống bào đứng lên, gọi người trong nhà đem chiếc hòm đồ nghề xuống. Người ấy hỏi đi bao giờ, ông mới chợt nhớ khách chưa nhận thuê, đành bảo cứ đem ra xem có thiếu gì không.
"Tôi còn phải hỏi người ở bãi," Mặc nói. "Họ muốn thợ tới nhìn thuyền trước."
"Thì tới nhìn. Cậu đừng lấy cái chân ta mà đo giá, xuống bãi ta ngồi trên ván cũng làm được."
Ông tự mở hòm, bên trong những lưỡi bào còn sáng, vài chuôi đã mòn lõm chỗ cầm. Mặc đang xem thì người giữ hàng đi ra gọi.
Người giữ hàng trong sân nhận ra dấu Khải Phong trên bọc hắn, hỏi có phải tông bán đan ngoài biển hay không. Nghe hắn nhận, bà mới bỏ chiếc cân đang dùng, đưa hắn tới một góc tường xây đá, xa đống dăm và thùng dầu trét thuyền.
Trong hốc đặt bốn ống lửa trời, mỗi ống có lớp lót mới, bà chỉ hé một ống cho hắn xem, sợi trắng bên trong liền vươn về phía ánh sáng rồi bị hắn dùng linh lực giữ lại.
Mặc đối dấu cháy trên thành ống với tờ khế bà đưa, đó là đồ từ một chuyến thu dọn vật Kiếp Ma bỏ lại, nét ghi đã cũ, bên dưới có vết lửa ăn khuyết một góc giấy. Hắn từng đổi thứ này ở bãi biển, biết phải nhìn cả đáy chứa chứ không chỉ nhìn ánh bên trên.
"Ta cần đan cho người sống trong trấn," bà nói. "Ông thợ kia đau đến nỗi đêm cầm bào ngủ, vì buông ra sáng mai không khép ngón được. Thuốc cậu có giúp nổi không?"
"Phải xem thân ông ấy trước, đèn đã yếu, thuốc của tôi không làm nó trẻ lại."
"Ta hỏi ngón tay ông ấy."
Bà nói xong mới khép ống, cất khế vào hộp, Mặc trở ra sân, xin ông thợ dừng một lát, ông càu nhàu vì đường bào còn dở nhưng vẫn để hắn xem.
Khi Mặc xin nhận trước một phần dược, chờ thành đan mới trả tiền, bà lắc đầu, bảo mình đã nuôi đủ người nợ thuốc trong trấn, không nuôi thêm một vị Hoá Thần.
Trở về quán, Mặc thấy người mua bản chép đứng dưới hiên, đang hỏi Tống lão hắn mang thuốc gì tới đổi. Gã thôi hỏi khi hắn bước vào, nhưng tới lúc Mặc nhắc chuyện tìm người dạy nấu cá vẫn còn đứng đó.
"Người học sức chưa khỏe, phải ngồi gần một cái hòm," Mặc nói với Tống lão.
"Ngồi thì có gì lạ? Ở đây đứng lâu được mới lạ. Miễn cậu ấy đừng nghĩ cá bỏ vào nước là tự biết ngon."
Chiều ấy, Mặc gửi lời lên núi theo chuyến hàng, kể chuyện thợ và lời Tống lão, hỏi Thất có muốn xuống xem không. Hắn viết rõ trấn không có thuốc thay lửa, rồi để người mang tin đi trước khi trời tối.
Lời mời tới Vọng Tinh bốn ngày sau. Đỗ Nghi đọc ở đầu hiên, chỗ Thất ngồi cạnh đế ghép, đọc xong còn giữ tờ giấy vì nghĩ anh sẽ hỏi đường bao xa.
Thất lại hỏi cá ở trấn có nhiều xương không.
Lão Khúc ngồi gần đó phá lên cười, bảo cá ở đâu chẳng có xương, anh học nấu thì phải học gỡ. Thất nói muốn đi, nhưng nếu phải tháo đèn thì thôi.
Đỗ đưa tờ giấy cho anh, đi xem bộ khiêng đã dùng lúc nhận đèn đôi. Sáng kế, cả hòm lẫn chỗ Thất ngồi được đưa lên cùng một mặt đỡ, đế ghép nằm nguyên giữa hai phía. Ông thử độ nghiêng ở bậc thấp, gọi người kê lại cả bộ rồi mới cho đi.
"Tới đâu nghỉ thì hạ cả xuống," ông dặn Lão. "Ông đừng thấy quán đẹp mà bảo cậu ấy vào trước."
"Ta biết rồi, người xuống trấn học cá, ông tiễn cứ như đem đi bán."
Lão nói mạnh nhưng tới chân dốc lại tự đi trước tìm chỗ đặt. Bốn người nhà đổi lượt khiêng, Thất ngồi quay về đường, qua mỗi khúc quanh đều hỏi người đi cuối đã theo kịp chưa. Trong gian kín trên núi, chiếc bát trắng vẫn nằm trên ghế thấp, Ôn đại nương lấy miếng vải phủ khỏi bụi.
Mặc đón được họ ngoài trấn sau mười ngày đường, Lão nhìn hắn đứng cạnh cầu đã gọi tìm nước rửa chân, còn Thất nhìn qua vai hắn, dõi tới những mái nhà thấp ven đường.
"Ông dạy cá đâu rồi?"
"Ở quán, anh còn muốn học chứ?"
Thất gật, rồi nhích chân cho người khiêng có chỗ đổi vai. Mặc đi cạnh bộ đỡ, nhìn qua khe hòm thấy gương mặt Chiêu không đổi, nhưng có một hạt bụi nằm gần tai nàng mà người trên đường chưa thấy.
"Đã đưa ta ra khỏi núi," nàng nói khẽ trong ngực, "đừng đứng nhìn bụi như đợi nó chào."
Hắn bật cười, người khiêng tưởng hắn vui vì đoàn tới, cũng cười theo. Thất hỏi trên mặt mình dính gì, Mặc bảo không có, rồi giúp họ qua chiếc cầu hẹp trước quán.
Tống lão bước ra đón, thấy cả hòm và đế liền đứng lại, ông nhìn Thất, nhìn vệt xám trên trán anh, sau đó quay sang Mặc.
"Cậu chỉ nói có người phải ngồi gần hòm."
"Cả bộ phải giữ cùng đế thế này, trong gian dưới còn chỗ chứ?"
"Chỗ ấy còn người già nằm. Ta không cho khiêng vào được."
Lão Khúc ngừng tháo bọc, mặt đỏ lên vì nóng lẫn bực. Tống lão chỉ vào gian cuối nơi người mua bản ấn ở.
"Khách ấy chỉ chờ xem trán cậu. Bộ này đưa qua ngõ, những người khác sẽ hỏi gì nữa? Ta còn người ở trong nhà, không phải mình ta quyết được."
Thất cúi đầu, chân co về sát chỗ ngồi. Anh bảo có thể quay lại quán ngoài cầu, nhưng người khiêng vừa hạ bộ xuống đã phải dựa lưng vào tường, chẳng ai đứng dậy nổi ngay.
Mặc nhìn bãi đất sau quán, nơi đám cỏ khô bị những súc gỗ đè thành vệt.
"Bãi ấy ông có cho thuê không? Tôi dựng gian riêng, cửa mở ra đường sau."
Tống lão đi gọi người trong nhà ra bàn, bằng lòng cho thuê bãi. Lão Khúc trả tiền dựng gian, chỉ đòi ghi rõ mái thuộc người trả tiền, ngày đi được tháo mang theo.
Trong hai ngày, nền đá được kê xong, những cây cột dựng lên quanh bộ khiêng, Mặc giúp thợ đưa gỗ, chừa cửa đủ rộng cho cả đế ra vào.
Chiều lợp mái, một đầu xà trượt khỏi dây nâng.
Thợ già trên thang quát xuống, mái chưa giằng nghiêng cả về phía nền mới. Người khiêng đang chèn chân đỡ dưới hiên bật dậy, vai mắc vào thanh ngang, đầu xà đã rơi qua tầm với của Mặc.
Linh lực từ đan điền Mặc tràn ra, phủ dưới khung mái thành một tầng khí trong, cả dãy gỗ nặng khựng lại giữa không.
Những mảnh ngói chưa buộc vẫn trượt, thần thức hắn đã tới phía sau vách. Ở đó có người đang bò ra, chân còn dưới cây cột nghiêng, Mặc phân lực giữ gốc cột, đẩy khung mái lên cao thêm, mấy mảnh ngói rơi xuống bãi trống, vỡ giòn giữa tiếng người gọi nhau.
Thợ trên thang đứng cứng cả hai chân, nhìn mái quán che kín nửa trời đang treo cách đầu mình hơn một trượng. Không có dây nào còn căng, sợi đứt rủ xuống đung đưa trước mặt ông.
"Xuống đi," Mặc nói, "phía sau cũng ra được rồi."
Người mắc chân bò hết ra ngoài, ngẩng lên mới thấy cây cột đã rời đất. Ông thợ thôi ghì thang, lần xuống từng bậc, vừa chạm nền đã kéo Thất và bộ đỡ lùi vào khoảng an toàn cùng những người khiêng.
Tống lão ôm cây chống chạy tới, bước qua cửa bãi thì dừng. Mặc đang giữ cả mái, ngón trỏ phải chúc xuống, một đầu xà chậm rãi xoay trở về đúng lỗ mộng, hơi nóng từ thân gỗ bị nắng nung ép vào mặt những người đứng gần.
"Đầu bên kia chưa ngay," thợ già gọi, quên cả xưng hô với tu sĩ.
Khung mái dịch sang, đầu xà phía khuất cũng lùi đúng chỗ. Ông chạy qua xem, thấy gỗ đã nằm yên trên cả hai cột, mới dám gọi người đem chốt tới.
Mặc giữ đến khi họ giằng chắc, sau đó thu lực, sỏi dưới chân hắn lăn ra thành một vòng nhỏ, sức nặng trở xuống nền khiến đất rung, Thất ở đầu bộ khiêng thở phào thành tiếng.
Tống lão dựng cây chống vào tường rồi quay vào quán, lát sau mang chiếu ra. Ông dừng trước Thất, đưa tấm chưa thủng cho anh, mắt còn nhìn chỗ đầu gối co sát mép đế.
"Hôm các cậu tới, ta..."
Thất nhận chiếu, hỏi tối nay vẫn nằm ngoài này chứ. Ông đáp phải, rồi tự lấy tấm còn lại che nắng cho hòm.
"Nền còn hơi đá," ông nói, "tối nằm lạnh, ngày mai ta mang bếp ra đây, trong nhà khói nhiều."
Thất hỏi ông có mang cá cùng không. Tống lão gật, cúi xuống buộc góc chiếu, nút đầu tuột khỏi tay phải buộc lại.
Mặc đứng ngoài mái mới, hơi thở còn gấp thì nghe tiếng giày từ lối sau. Người mua bản chép dừng ngoài bãi, không bước qua cây chống Tống lão vừa dựng.
Gã đặt một túi linh thạch lên đầu cột thấp, ánh mắt đã chuyển khỏi khăn Mặc, dừng ở Thất đang ngồi cạnh chiếc hòm.
"Ta trả gấp đôi, nếu được chép thêm mặt ấn của người ngồi bên kia."

